Hai tờ chào vay đặt cạnh nhau thường chỉ khác nhau vài con số: một bên lãi suất thấp hơn một chút, một bên trả hàng tháng nhẹ hơn một chút. Nhìn lướt qua, bạn rất dễ chốt ngay phương án trông rẻ hơn, rồi sau đó mới phát hiện tổng tiền phải trả cuối cùng lại cao hơn. Bài này gỡ rối các khái niệm hay bị dùng lẫn khi so sánh hai khoản vay.
So sánh hai khoản vay nghĩa là đặt hai phương án vay cùng số tiền lên một bảng, mỗi phương án gồm lãi suất, kỳ hạn, khoản trả hàng tháng, tổng tiền phải trả và tổng lãi. Bài toán xuyên suốt bài này dùng cùng số tiền vay 300.000.000 đồng: khoản A lãi suất 12%/năm trong 24 tháng, khoản B lãi suất 9%/năm trong 36 tháng, cả hai đều trả góp đều hàng tháng và tính lãi trên dư nợ giảm dần.
Lãi suất ghi trong tờ rơi chưa phải chi phí thật
Khái niệm đầu tiên hay gây nhầm lẫn là lãi suất danh nghĩa và chi phí vay thực tế. Lãi suất danh nghĩa là mức lãi suất ghi trong tờ chào hoặc trong hợp đồng, còn chi phí vay thực tế là toàn bộ số tiền bạn phải trả thêm ngoài tiền gốc, gồm tiền lãi theo đúng phương pháp tính cộng với phí thẩm định, phí quản lý khoản vay và phí bảo hiểm nếu có. Một khoản vay ghi lãi suất 12%/năm nhưng cộng thêm phí vẫn có thể tốn kém hơn một khoản vay ghi 12,5%/năm nhưng không thu thêm phí nào.
Phương pháp tính lãi làm thay đổi đáp án mạnh hơn nhiều người vẫn tưởng. Cùng khoản vay 300.000.000 đồng, lãi suất 12%/năm, kỳ hạn 24 tháng, cách tính lãi trên dư nợ giảm dần với khoản trả góp đều cho tổng lãi 38.929.000 đồng. Cũng khoản vay đó, cách tính lãi trên dư nợ gốc giữ tiền lãi mỗi tháng cố định ở mức 3.000.000 đồng, tổng lãi lên tới 72.000.000 đồng, gần gấp đôi. Tổng lãi chênh nhau tới 33.071.000 đồng chỉ vì phương pháp tính khác nhau. Trước khi so sánh, bạn luôn xác nhận lãi tính trên dư nợ gốc hay trên dư nợ giảm dần.
Về mặt pháp lý, Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận lãi suất cho vay, đồng thời thỏa thuận phải ghi rõ mức lãi suất và phương pháp tính lãi. Với khoản vay dân sự ngoài hệ thống tổ chức tín dụng, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, phần lãi suất vượt quá mức này không có hiệu lực, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Cách đọc từng thành phần lãi suất, kỳ hạn và tổng lãi đã có trong bài Hai khoản vay: cách đọc lãi suất, kỳ hạn và tổng lãi.

Kính lúp soi kỹ hợp đồng vay, tập trung vào mức lãi suất, phương pháp tính lãi và các khoản phí đi kèm.
Trả hàng tháng nhẹ hơn chưa chắc rẻ hơn: kỳ hạn và cách trả
Khái niệm thứ hai hay bị đánh tráo là khoản trả hàng tháng và tổng lãi. Khoản trả hàng tháng cho biết áp lực tiền mặt mỗi tháng của bạn, còn tổng lãi cho biết khoản vay tốn kém bao nhiêu trong toàn bộ kỳ hạn. Hai con số này trả lời hai câu hỏi khác nhau, nên dùng khoản trả hàng tháng để kết luận khoản nào rẻ hơn là dùng sai thước đo.
| Chỉ tiêu | Khoản A | Khoản B |
|---|---|---|
| Số tiền vay | 300.000.000 đồng | 300.000.000 đồng |
| Lãi suất năm | 12% | 9% |
| Kỳ hạn | 24 tháng | 36 tháng |
| Trả đều hàng tháng | 14.122.042 đồng | 9.539.920 đồng |
| Tổng tiền phải trả | 338.929.000 đồng | 343.437.000 đồng |
| Tổng lãi | 38.929.000 đồng | 43.437.000 đồng |
Bảng trên cho thấy khoản B trả hàng tháng nhẹ hơn 4.582.122 đồng, nhưng tổng lãi của khoản B lại cao hơn khoản A 4.508.000 đồng. Lãi suất của khoản B thấp hơn, nhưng kỳ hạn kéo dài thêm 12 tháng cho tiền lãi thêm một năm để tích lũy. Khoản B phù hợp khi thu nhập hàng tháng của bạn không chịu được khoản trả của khoản A, còn khoản A phù hợp khi bạn trả được khoản trả cao hơn và muốn chốt tổng chi phí thấp nhất. Quy trình tính từng bước cho đúng hai khoản này đã có trong bài Cách tính hai khoản vay: quy trình từng bước kèm ví dụ số cụ thể.
Cách trả cũng là một cặp khái niệm hay bị gộp chung: trả góp đều và trả gốc đều. Trả góp đều giữ khoản trả hàng tháng cố định, tháng đầu tiền lãi chiếm phần lớn, về sau tiền gốc tăng dần. Trả gốc đều giữ tiền gốc mỗi tháng cố định, khoản trả tháng đầu cao nhất rồi giảm dần. Với khoản A, trả gốc đều cho tháng đầu 15.500.000 đồng (12.500.000 đồng gốc cộng 3.000.000 đồng lãi), tháng cuối chỉ còn 12.625.000 đồng, tổng lãi 37.500.000 đồng, rẻ hơn trả góp đều 1.429.000 đồng. Đáp án rẻ hơn này đi kèm điều kiện: tháng đầu bạn phải chịu được khoản trả cao hơn 1.377.958 đồng so với trả góp đều.

Hai chồng đồng xu đặt lên bàn cân, chồng thấp hơn nhưng kéo dài hơn vẫn có thể nặng tổng lãi hơn.
Lãi suất ưu đãi, thả nổi và thời gian ân hạn
Cặp nhầm lẫn thứ ba nằm ở lãi suất ưu đãi và lãi suất áp dụng cho toàn bộ kỳ hạn. Lãi suất ưu đãi chỉ có hiệu lực trong vài tháng đầu, sau đó lãi suất thả nổi được điều chỉnh theo nguyên tắc đã thỏa thuận trong hợp đồng, thường gắn với lãi suất huy động cộng một biên độ cố định.
Ví dụ cụ thể với khoản vay 300.000.000 đồng trong 24 tháng: 6 tháng đầu lãi suất 6%/năm cho khoản trả 13.296.183 đồng mỗi tháng, sau 6 tháng dư nợ còn 228.332.268 đồng. 18 tháng còn lại lãi suất điều chỉnh lên 14%/năm, khoản trả mới là 14.137.232 đồng mỗi tháng. Cộng cả hai giai đoạn, tổng lãi thực tế là 34.247.000 đồng. Nếu lấy lãi suất 6%/năm áp cho cả 24 tháng, tổng lãi chỉ ra 19.108.000 đồng, thấp hơn thực tế tới 15.139.000 đồng. Khoản chênh lệch này xuất phát trực tiếp từ việc bỏ qua giai đoạn thả nổi. Trước khi chốt, bạn hỏi rõ lãi suất sau thời gian ưu đãi điều chỉnh theo nguyên tắc nào, điều chỉnh mỗi mấy tháng và có mức trần hay không.
Thời gian ân hạn cũng gồm hai dạng khác nhau mà nhiều người gộp chung thành một. Ân hạn gốc nghĩa là trong thời gian ân hạn, bạn chỉ trả tiền lãi, tiền gốc giữ nguyên nên tổng lãi cao hơn so với trả gốc ngay từ đầu. Ân hạn cả gốc lẫn lãi nghĩa là trong thời gian ân hạn, bạn chưa trả gì cả, tiền lãi phát sinh được cộng vào dư nợ, và các tháng sau tiền lãi được tính trên dư nợ đã phình to hơn đó. Dạng thứ hai tốn kém hơn dạng thứ nhất, vì vậy bạn luôn hỏi rõ ân hạn trong hợp đồng của bạn thuộc dạng nào.
Trước khi ký, bạn nhập đúng hai bộ số của bạn vào công cụ So sánh hai khoản vay của Công Cụ Việt để xem bảng đối chiếu giống bảng trong bài, rồi đổi thử kỳ hạn, lãi suất và cách trả để biết đáp án thay đổi ra sao. Công cụ tính đúng với các con số bạn nhập, còn quyết định cuối cùng vẫn phụ thuộc vào hợp đồng vay thực tế và khả năng chi trả hàng tháng của bạn.

Tờ lịch với mũi tên lãi suất đi lên bên cạnh đồng xu, gợi ý giai đoạn ưu đãi kết thúc và lãi suất thả nổi bắt đầu.
Checklist áp dụng nhanh
- So sánh tổng chi phí gồm lãi và phí, xác nhận phương pháp tính lãi giống nhau cho cả hai khoản trước khi so tổng lãi.
- Đọc riêng khoản trả hàng tháng và tổng lãi: khoản trả cho biết áp lực mỗi tháng, tổng lãi cho biết khoản vay tốn kém bao nhiêu.
- Hỏi rõ nguyên tắc điều chỉnh lãi suất sau ưu đãi và dạng ân hạn trong hợp đồng trước khi ký.
Câu hỏi thường gặp
Hai khoản cùng lãi suất, cùng kỳ hạn nhưng tổng lãi khác nhau vì sao? Nguyên nhân thường nằm ở phương pháp tính lãi khác nhau, phí khác nhau, hoặc thời điểm bắt đầu tính lãi khác nhau. Lãi tính trên dư nợ gốc luôn cho tổng lãi cao hơn lãi tính trên dư nợ giảm dần, và một khoản phí trả ngay khi giải ngân cũng làm tổng chi phí đội lên dù lãi suất ghi trong hợp đồng giống nhau.
Lãi suất thả nổi đổi giữa kỳ thì bảng tổng lãi tính trước còn đúng không? Bảng cũ chỉ còn đúng tới tháng trước khi lãi suất đổi. Từ tháng lãi suất mới có hiệu lực, bạn tính lại khoản trả và tổng lãi trên dư nợ còn lại tại thời điểm đó, với lãi suất mới và số tháng còn lại.
Trả trước hạn một phần có luôn tiết kiệm tiền lãi không? Trả trước một phần gốc làm dư nợ còn lại giảm xuống, nên tiền lãi các tháng sau tính trên dư nợ thấp hơn đó và tổng lãi giảm theo. Tiết kiệm thực tế còn phải trừ đi phí trả nợ trước hạn ghi trong hợp đồng. Với khoản trả trước nhỏ và phí cao, phần tiết kiệm có thể bị phí ăn hết.

Dấu hỏi lớn bên cạnh đống đồng xu trên bàn, gợi ý những tình huống thực tế cần kiểm tra thêm trước khi chốt khoản vay.
Các con số trong bài là ví dụ tính toán theo phương pháp trả góp đều, lãi tính trên dư nợ giảm dần, trừ khi ghi chú phương pháp khác, không thay thế tư vấn tài chính cho hợp đồng vay cụ thể của bạn.
Nếu bạn còn thắc mắc lẻ tẻ sau khi đọc phần phân biệt, bài Hai khoản vay: giải đáp các câu hỏi thường gặp nhất trả lời thẳng các câu hỏi về tổng lãi, kỳ hạn dài và trả trước hạn bằng cùng ví dụ vay 300 triệu đồng trong cụm bài này.

