Khi đặt hai tờ chào vay cạnh nhau, câu hỏi của bạn thường không nằm ở một con số duy nhất, mà nằm ở cả chùm con số đi kèm: lãi suất ghi trong tờ chào có phải chi phí thật không, kỳ hạn dài hơn có rẻ hơn không, trả trước hạn có tiết kiệm được bao nhiêu. Bài này trả lời thẳng những câu hỏi đó, bằng cùng một bài toán mẫu xuyên suốt để bạn đối chiếu được ngay.
So sánh hai khoản vay nghĩa là đặt hai phương án vay cùng số tiền lên một bảng, mỗi phương án gồm lãi suất, kỳ hạn, khoản trả hàng tháng, tổng tiền phải trả và tổng lãi. Bài toán mẫu của bài này vay 300.000.000 đồng: khoản A lãi suất 12%/năm trong 24 tháng, khoản B lãi suất 9%/năm trong 36 tháng, cả hai đều trả góp đều hàng tháng và tính lãi trên dư nợ giảm dần. Cách đọc từng thành phần lãi suất, kỳ hạn và tổng lãi đã có trong bài Hai khoản vay: cách đọc lãi suất, kỳ hạn và tổng lãi, còn cách phân biệt các khái niệm hay bị dùng lẫn đã có trong bài Hai khoản vay và các khái niệm dễ nhầm lẫn.
Nên nhìn vào lãi suất hay tổng lãi khi chọn khoản vay?
Câu trả lời ngắn gọn là nhìn vào tổng lãi, nhưng phải là tổng lãi tính trên cùng một phương pháp và đã cộng đủ phí. Lãi suất danh nghĩa chỉ là một mức ghi trong tờ chào hoặc hợp đồng, còn tổng lãi là số tiền thực tế bạn trả thêm ngoài tiền gốc trong toàn bộ kỳ hạn. Một khoản vay ghi lãi suất thấp hơn vẫn có thể tốn kém hơn nếu cộng thêm phí thẩm định, phí quản lý khoản vay và phí bảo hiểm, hoặc nếu tiền lãi được tính theo phương pháp bất lợi hơn.
Phương pháp tính lãi là điểm cần xác nhận trước tiên. Cùng khoản vay 300.000.000 đồng, lãi suất 12%/năm, kỳ hạn 24 tháng, cách tính lãi trên dư nợ giảm dần với khoản trả góp đều cho tổng lãi 38.929.000 đồng. Cũng khoản vay đó, cách tính lãi trên dư nợ gốc giữ tiền lãi mỗi tháng cố định ở mức 3.000.000 đồng, tổng lãi lên tới 72.000.000 đồng. Chênh lệch 33.071.000 đồng này không đến từ lãi suất ghi trong hợp đồng, mà đến từ phương pháp tính. Vì vậy, trước khi so sánh hai tờ chào, bạn xác nhận cả hai có cùng phương pháp tính lãi hay không, rồi mới đặt tổng lãi cạnh nhau.
Về mặt pháp lý, Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận lãi suất cho vay, đồng thời thỏa thuận phải ghi rõ mức lãi suất và phương pháp tính lãi. Với khoản vay dân sự ngoài hệ thống tổ chức tín dụng, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, phần lãi suất vượt quá mức này không có hiệu lực, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Khi đọc hợp đồng, bạn đối chiếu ba dòng: mức lãi suất, phương pháp tính lãi và bảng phí đi kèm, rồi mới kết luận khoản nào rẻ hơn.

Kính lúp soi kỹ hợp đồng vay, tập trung vào mức lãi suất, phương pháp tính lãi và các khoản phí đi kèm.
Kỳ hạn dài hơn có phải luôn nhẹ gánh hơn?
Kỳ hạn dài hơn luôn làm khoản trả hàng tháng nhẹ đi, nhưng chưa chắc làm tổng chi phí nhẹ đi. Khoản trả hàng tháng cho biết áp lực tiền mặt mỗi tháng của bạn, còn tổng lãi cho biết khoản vay tốn kém bao nhiêu trong toàn bộ kỳ hạn. Hai con số này trả lời hai câu hỏi khác nhau, nên dùng khoản trả hàng tháng để kết luận khoản nào rẻ hơn là dùng sai thước đo.
| Chỉ tiêu | Khoản A | Khoản B |
|---|---|---|
| Số tiền vay | 300.000.000 đồng | 300.000.000 đồng |
| Lãi suất năm | 12% | 9% |
| Kỳ hạn | 24 tháng | 36 tháng |
| Trả đều hàng tháng | 14.122.042 đồng | 9.539.920 đồng |
| Tổng tiền phải trả | 338.929.000 đồng | 343.437.000 đồng |
| Tổng lãi | 38.929.000 đồng | 43.437.000 đồng |
Bảng trên cho thấy khoản B trả hàng tháng nhẹ hơn 4.582.122 đồng, nhưng tổng lãi của khoản B lại cao hơn khoản A 4.508.000 đồng. Lãi suất của khoản B thấp hơn, nhưng kỳ hạn kéo dài thêm 12 tháng cho tiền lãi thêm một năm để tích lũy. Khoản B phù hợp khi thu nhập hàng tháng của bạn không chịu được khoản trả của khoản A, còn khoản A phù hợp khi bạn trả được khoản trả cao hơn và muốn chốt tổng chi phí thấp nhất. Quy trình tính từng bước cho đúng hai khoản này đã có trong bài Cách tính hai khoản vay: quy trình từng bước kèm ví dụ số cụ thể.
Một lưu ý nữa là kỳ hạn dài hơn cũng kéo dài thời gian bạn mang nợ, và bạn khó xoay sang một khoản vay khác nếu hợp đồng thu phí trả trước hạn cao. Kỳ hạn dài là một lựa chọn về dòng tiền, không phải một bằng chứng cho thấy khoản vay rẻ hơn.

Hai chồng đồng xu đặt lên bàn cân, chồng thấp hơn nhưng kéo dài hơn vẫn có thể nặng tổng lãi hơn.
Trả trước hạn, lãi suất đổi giữa kỳ và cách dùng công cụ kiểm chứng
Trả trước hạn một phần gốc làm dư nợ còn lại giảm xuống, nên tiền lãi các tháng sau tính trên dư nợ thấp hơn đó và tổng lãi giảm theo. Lấy khoản A làm ví dụ: sau 12 tháng trả đều, dư nợ còn lại là 158.944.673 đồng. Nếu bạn trả trước thêm 50.000.000 đồng gốc vào thời điểm này, dư nợ còn 108.944.673 đồng, khoản trả 12 tháng còn lại giảm xuống 9.679.602 đồng mỗi tháng. Tiền lãi của 12 tháng còn lại chỉ còn 7.210.554 đồng, so với 10.519.831 đồng nếu bạn không trả trước. Phần tiết kiệm khoảng 3.309.000 đồng này là con số trước khi trừ phí trả nợ trước hạn ghi trong hợp đồng, nên bạn luôn đối chiếu phí trước khi quyết định trả.
Khi lãi suất thả nổi đổi giữa kỳ, bảng tổng lãi tính từ đầu chỉ còn đúng tới tháng trước khi lãi suất đổi. Cách xử lý đúng là lấy dư nợ còn lại tại thời điểm đổi lãi suất làm số tiền vay mới, lấy lãi suất mới và số tháng còn lại làm kỳ hạn mới, rồi tính lại khoản trả và tổng lãi từ thời điểm đó. Với khoản A, dư nợ còn lại sau 12 tháng là 158.944.673 đồng, và đó chính là con số khởi đầu cho phép tính lại nếu lãi suất thay đổi ở tháng thứ 13.
Công thức tính khoản trả góp đều hàng tháng dùng cho mọi phép tính trong bài là:
Khoản trả hàng tháng = Số tiền vay x lãi suất tháng / (1 – (1 + lãi suất tháng) ^ (- số tháng))
Trước khi chốt phương án, bạn nhập đúng hai bộ số của bạn vào công cụ So sánh hai khoản vay của Công Cụ Việt để xem bảng đối chiếu giống bảng trong bài, rồi đổi thử kỳ hạn, lãi suất và số tiền trả trước để biết đáp án thay đổi ra sao. Công cụ tính đúng với các con số bạn nhập, còn quyết định cuối cùng vẫn phụ thuộc vào hợp đồng vay thực tế và khả năng chi trả hàng tháng của bạn.

Tờ lịch với mũi tên đi xuống bên cạnh đồng xu, gợi ý khoản trả giảm xuống sau khi trả trước một phần gốc.
Checklist áp dụng nhanh
- Xác nhận phương pháp tính lãi và bảng phí giống nhau cho cả hai khoản trước khi so tổng lãi.
- Đọc riêng khoản trả hàng tháng và tổng lãi: khoản trả cho biết áp lực mỗi tháng, tổng lãi cho biết khoản vay tốn kém bao nhiêu.
- Trước khi trả trước hạn, đối chiếu phí trả trước với phần lãi tiết kiệm được, rồi mới quyết định.
Câu hỏi thường gặp
Ký hợp đồng rồi mới phát hiện một khoản phí chưa được nhắc tới thì xử lý ra sao? Bạn đối chiếu khoản phí đó với hợp đồng đã ký và với thỏa thuận lãi suất, phương pháp tính lãi theo Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN nếu khoản vay thuộc tổ chức tín dụng. Phí đã ghi rõ trong hợp đồng và bạn đã ký xác nhận thì khó khiếu nại, còn phí thu ngoài hợp đồng thì bạn yêu cầu tổ chức tín dụng giải thích bằng văn bản và giữ lại chứng từ thu phí để làm căn cứ.
Hai khoản có tổng lãi gần bằng nhau thì nên chọn khoản nào? Khi tổng lãi chênh nhau không đáng kể, bạn chọn theo dòng tiền và điều kiện hợp đồng: khoản trả hàng tháng vừa với thu nhập, phí trả trước hạn thấp, lãi suất sau ưu đãi có mức trần rõ ràng và thời gian ân hạn thuộc dạng bạn chấp nhận được. Tổng lãi chỉ là một trong các tiêu chí, còn khả năng trả đều mỗi tháng mới quyết định bạn có giữ được khoản vay tới cuối kỳ hay không.
Trả trước hạn vào tháng cuối của kỳ hạn còn đáng không? Vào tháng cuối, dư nợ còn lại đã rất nhỏ nên tiền lãi của tháng cuối cũng nhỏ theo, trong khi phí trả trước hạn có thể cao hơn phần lãi tiết kiệm được. Trường hợp này, bạn tính nhanh phần lãi còn lại của tháng cuối rồi so với phí, và thường thì trả đúng lịch sẽ kinh tế hơn là trả trước vào sát ngày đáo hạn.

Dấu hỏi lớn bên cạnh đống đồng xu trên bàn, gợi ý những tình huống thực tế cần kiểm tra thêm trước khi chốt khoản vay.
Các con số trong bài là ví dụ tính toán theo phương pháp trả góp đều, lãi tính trên dư nợ giảm dần, trừ khi ghi chú phương pháp khác, không thay thế tư vấn tài chính cho hợp đồng vay cụ thể của bạn.

