Hai bảng chào vay đặt cạnh nhau, khoản nào trả hàng tháng nhẹ hơn thường nhìn hấp dẫn hơn ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng khoản trả nhẹ hơn chưa chắc đã rẻ hơn, vì tổng lãi còn phụ thuộc vào kỳ hạn và cách tính lãi. Bài này hướng dẫn cách tính hai khoản vay từng bước, với cùng một số tiền vay để bạn nhìn rõ khoản nào tốn lãi hơn thật sự.
Cách tính hai khoản vay nghĩa là đặt hai phương án vay cùng số tiền lên một bảng: mỗi phương án gồm số tiền vay, lãi suất, kỳ hạn, khoản trả đều hàng tháng, tổng tiền phải trả và tổng lãi. So sánh hai khoản vay chỉ có nghĩa khi cả hai dùng cùng một cách tính lãi và cùng một số tiền vay ban đầu.
Bốn con số phải chốt trước khi bấm máy
Trước khi tính, bạn chốt đủ bốn con số cho mỗi khoản vay. Thiếu một con số, bảng so sánh sẽ lệch ngay từ đầu.
- Số tiền vay: số tiền thực nhận, sau khi trừ các khoản phí trừ vào khoản giải ngân nếu có.
- Lãi suất năm: mức lãi suất ghi trong hợp đồng, kèm ghi chú cố định hay thả nổi.
- Kỳ hạn: tổng số tháng phải trả, tính từ tháng đầu tiên đến tháng cuối cùng.
- Cách trả: trả góp đều hàng tháng hay trả gốc đều, lãi tính trên dư nợ giảm dần hay trên dư nợ gốc.
Ví dụ xuyên suốt bài này dùng cùng số tiền vay 300.000.000 đồng. Khoản A có lãi suất 12%/năm trong 24 tháng. Khoản B có lãi suất 9%/năm trong 36 tháng. Cả hai đều trả góp đều hàng tháng, lãi tính trên dư nợ giảm dần.
Bước đổi lãi suất năm sang lãi suất tháng rất đơn giản: chia lãi suất năm cho 12. Khoản A có lãi suất tháng 1%/tháng, khoản B có lãi suất tháng 0,75%/tháng. Con số này là đầu vào của công thức trả góp đều dưới đây.
Tiền trả đều mỗi tháng = Số tiền vay x Lãi suất tháng / (1 – (1 + Lãi suất tháng) ^ (- Số tháng vay))
Trong công thức này, số tiền vay là 300.000.000 đồng cho cả hai khoản, lãi suất tháng của khoản A là 1%, của khoản B là 0,75%, số tháng vay của khoản A là 24 và của khoản B là 36. Tiền lãi mỗi tháng bằng dư nợ còn lại nhân với lãi suất tháng, nên tiền lãi tháng đầu luôn cao nhất và giảm dần về sau.

Máy tính, hợp đồng vay và đồng xu trên bàn làm việc, gợi ý bước chốt số liệu trước khi tính.
Ví dụ từng bước với 300 triệu: khoản A 24 tháng và khoản B 36 tháng
Khoản A: 300.000.000 đồng, 12%/năm, 24 tháng. Lãi suất tháng là 1%. Áp công thức trả góp đều, khoản trả hàng tháng là 14.122.042 đồng. Tháng đầu tiên, tiền lãi là 3.000.000 đồng và tiền gốc là 11.122.042 đồng. Tháng cuối cùng, khi dư nợ trước kỳ trả chỉ còn 13.982.219 đồng, tiền lãi chỉ còn 139.822 đồng. Cộng 24 tháng lại, tổng tiền phải trả là 338.929.000 đồng và tổng lãi là 38.929.000 đồng.
Khoản B: 300.000.000 đồng, 9%/năm, 36 tháng. Lãi suất tháng là 0,75%. Khoản trả hàng tháng là 9.539.920 đồng. Tháng đầu tiên, tiền lãi là 2.250.000 đồng và tiền gốc là 7.289.920 đồng. Tháng cuối cùng, tiền lãi chỉ còn 71.017 đồng. Cộng 36 tháng lại, tổng tiền phải trả là 343.437.000 đồng và tổng lãi là 43.437.000 đồng.
| Chỉ tiêu | Khoản A | Khoản B |
|---|---|---|
| Số tiền vay | 300.000.000 đồng | 300.000.000 đồng |
| Lãi suất năm | 12% | 9% |
| Kỳ hạn | 24 tháng | 36 tháng |
| Trả đều hàng tháng | 14.122.042 đồng | 9.539.920 đồng |
| Tổng tiền phải trả | 338.929.000 đồng | 343.437.000 đồng |
| Tổng lãi | 38.929.000 đồng | 43.437.000 đồng |
Đặt hai khoản cạnh nhau, kết quả khá ngược với cảm giác ban đầu: khoản B trả hàng tháng nhẹ hơn 4.582.122 đồng, nhưng tổng lãi của khoản B lại cao hơn khoản A 4.508.000 đồng. Lãi suất thấp hơn không tự động đồng nghĩa với tổng lãi thấp hơn, vì khoản B kéo dài thêm 12 tháng và tiền lãi có thêm một năm để tích lũy. Khi thu nhập hàng tháng của bạn chịu được khoản trả của khoản A, khoản A tiết kiệm hơn. Khi khoản trả của khoản A vượt quá khả năng chi trả, khoản B vẫn là lựa chọn giữ dòng tiền an toàn hơn dù tổng lãi cao hơn.

Hai chồng đồng xu đặt cạnh nhau, chồng thấp hơn nhưng kéo dài hơn có thể tốn tổng lãi nhiều hơn.
Ba chỗ dễ tính sai và cách tự kiểm chứng
Chỗ dễ sai thứ nhất: nhầm lãi suất ghi trong quảng cáo với lãi suất thực phải trả. Lãi suất ưu đãi vài tháng đầu, phí thẩm định, phí bảo hiểm khoản vay và lãi suất thả nổi sau thời gian ưu đãi đều làm tổng chi phí thực cao hơn con số lãi suất nhìn thấy đầu tiên. Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, đồng thời thỏa thuận phải ghi rõ mức lãi suất và phương pháp tính lãi. Đọc kỹ hai dòng này trong hợp đồng trước khi chốt, và hỏi rõ lãi suất sau thời gian ưu đãi được điều chỉnh theo nguyên tắc nào.
Chỗ dễ sai thứ hai: nhầm cách tính lãi trên dư nợ gốc với cách tính trên dư nợ giảm dần. Cùng khoản 300.000.000 đồng, lãi suất 12%/năm, kỳ hạn 24 tháng, cách tính lãi trên dư nợ gốc cho tiền lãi mỗi tháng cố định 3.000.000 đồng và tổng lãi lên tới 72.000.000 đồng, gần gấp đôi mức 38.929.000 đồng của cách tính trên dư nợ giảm dần. Một bảng so sánh chỉ đúng khi cả hai khoản dùng cùng một cách tính lãi, vì vậy bạn luôn xác nhận phương pháp tính lãi trước khi so tổng lãi.
Chỗ dễ sai thứ ba: quên phí và điều kiện trả trước hạn. Phí trả nợ trước hạn, phí quản lý khoản vay và phí chậm trả có thể làm thay đổi đáp án cuối cùng, nhất là khi bạn dự định tất toán sớm. Riêng với vay dân sự ngoài hệ thống tổ chức tín dụng, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, phần lãi suất vượt quá không có hiệu lực, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Cách đọc từng thành phần lãi suất, kỳ hạn và tổng lãi đã được giải thích kỹ trong bài Hai khoản vay: cách đọc lãi suất, kỳ hạn và tổng lãi, bạn có thể đọc thêm trước khi so sánh.
Trước khi ký, bạn nhập đúng hai bộ số của bạn vào công cụ So sánh hai khoản vay của Công Cụ Việt để xem bảng đối chiếu giống bảng trong bài, rồi đổi thử kỳ hạn và lãi suất để biết đáp án thay đổi ra sao. Công cụ tính đúng với các con số bạn nhập, còn quyết định cuối cùng vẫn phụ thuộc vào hợp đồng vay thực tế và khả năng chi trả hàng tháng của bạn.
Nếu bạn hay nhầm lãi suất danh nghĩa với chi phí thực, hay lẫn khoản trả hàng tháng với tổng lãi, bài Hai khoản vay và các khái niệm dễ nhầm lẫn: lãi suất, kỳ hạn, tổng lãi gỡ rối từng cặp khái niệm này bằng cùng bộ số liệu 300 triệu đồng trong bài này.

Kính lúp soi kỹ hợp đồng vay, tập trung vào mức lãi suất, phương pháp tính lãi và các khoản phí.
Checklist áp dụng nhanh
- Chốt đủ bốn con số cho mỗi khoản vay và xác nhận cả hai dùng cùng một phương pháp tính lãi.
- Tính khoản trả đều, bóc tách tháng đầu và tháng cuối, rồi cộng tổng lãi thay vì chỉ nhìn khoản trả hàng tháng.
- Đọc kỹ phí, điều kiện trả trước hạn và nguyên tắc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng trước khi ký.
Câu hỏi thường gặp
Trả trước một phần thì tổng lãi tính lại thế nào? Khi bạn trả trước một phần gốc, dư nợ còn lại giảm xuống và tiền lãi các tháng sau được tính trên dư nợ mới thấp hơn đó, nên tổng lãi giảm theo. Mức giảm chính xác phụ thuộc vào thời điểm trả trước và phí trả nợ trước hạn ghi trong hợp đồng, vì vậy bạn nên hỏi rõ phí này trước khi tất toán sớm.
Lãi suất ưu đãi 6 tháng đầu rồi thả nổi thì tính tổng lãi ra sao? Bạn tính riêng từng giai đoạn: 6 tháng đầu dùng lãi suất ưu đãi, các tháng còn lại dùng lãi suất thả nổi theo nguyên tắc điều chỉnh đã thỏa thuận. Lấy lãi suất ưu đãi áp cho cả kỳ hạn sẽ làm tổng lãi thấp hơn thực tế, và đây là sai số thường gặp nhất khi ước tính khoản vay có lãi suất thay đổi.
Hai khoản có tổng lãi bằng nhau thì chọn khoản nào? Khi tổng lãi ngang nhau, bạn chọn theo khoản trả hàng tháng vừa với thu nhập, phí thấp hơn và điều kiện trả trước linh hoạt hơn. Khoản vay phù hợp là khoản vay bạn trả được đều đặn đến tháng cuối cùng mà không cần vay thêm để trả nợ cũ.

Dấu hỏi bên cạnh đồng xu, gợi ý những tình huống thực tế cần kiểm tra thêm trước khi chốt khoản vay.
Các con số trong bài là ví dụ tính toán theo phương pháp trả góp đều, lãi tính trên dư nợ giảm dần, không thay thế tư vấn tài chính cho hợp đồng vay cụ thể của bạn.

