Khi nào cần quan tâm đến toán khoản vay và trả góp?

Trang chủ / Blog / Khi nào cần quan tâm đến toán khoản vay và trả góp?
Hai bản chào vay đặt cạnh nhau, lọ đồng xu thủy tinh, máy tính và tờ lịch
Hai bản chào vay đặt cạnh nhau cùng lọ đồng xu, máy tính và tờ lịch.

Toán khoản vay và trả góp không phải thứ chỉ cần tính một lần rồi cất đi, vì khoản vay sống cùng thu nhập của bạn suốt nhiều năm và điều kiện của khoản vay có thể đổi giữa đường. Có ba thời điểm phép tính trở nên quan trọng nhất: trước khi ký, khi điều kiện vay thay đổi giữa kỳ, và khi khoản trả hàng tháng bắt đầu nặng lên so với thu nhập. Ví dụ xuyên suốt: vay 400.000.000 đồng, lãi suất 12%/năm, kỳ hạn 48 tháng, trả góp đều hàng tháng, cho khoản trả đều là 10.533.534 đồng/tháng và tổng lãi là 105.609.640 đồng.

Bạn có thể nhập số tiền, lãi suất và kỳ hạn của khoản vay đang cân nhắc vào Công cụ tính toán khoản vay và trả góp của Công Cụ Việt để có sẵn kết quả đối chiếu với từng tình huống dưới đây.

Trước khi ký: lúc hai gói vay cùng nhãn lãi suất nhưng tổng lãi khác nhau

Thời điểm đầu tiên cần tính kỹ là lúc đặt hai bản chào vay cạnh nhau, vì nhãn lãi suất giống nhau chưa chắc cho tổng chi phí giống nhau. Với ví dụ 400.000.000 đồng, 12%/năm, 48 tháng, cách tính trên dư nợ giảm dần cho khoản trả đều 10.533.534 đồng/tháng và tổng lãi 105.609.640 đồng. Công thức tính khoản trả đều, còn gọi là EMI, như sau:

EMI = Số tiền vay × lãi suất tháng × (1 + lãi suất tháng)^số tháng / ((1 + lãi suất tháng)^số tháng – 1)

Với lãi suất tháng bằng 1%, tháng đầu tiên trong ví dụ này gồm lãi 4.000.000 đồng và gốc 6.533.534 đồng, và lãi các tháng sau giảm dần theo dư nợ còn lại. Gói vay thứ hai cũng ghi 12%/năm nhưng tính lãi trên dư nợ gốc, còn gọi là lãi phẳng, cho khoản trả 12.333.333 đồng/tháng và tổng lãi lên tới 192.000.000 đồng, chênh 86.390.360 đồng so với cách tính trên dư nợ giảm dần. Cách nhận biết rất trực tiếp: lịch trả nợ của gói lãi phẳng ghi lãi tháng 12 bằng lãi tháng 1 trong khi dư nợ đã giảm.

Khung pháp lý cũng cho bạn căn cứ để hỏi rõ trước khi ký. Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định lãi suất vay do các bên thỏa thuận, và với hợp đồng vay dân sự, lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, phần lãi vượt mức này không có hiệu lực. Với khoản vay từ tổ chức tín dụng, lãi suất thực hiện theo thỏa thuận và quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN yêu cầu hợp đồng ghi rõ mức lãi suất và phương pháp tính lãi, trường hợp không tính theo số dư thực tế thì phải ghi mức lãi suất quy đổi theo %/năm. Điều 16 của cùng thông tư yêu cầu bên cho vay cung cấp trước các thông tin về lãi suất, phương pháp tính lãi, lãi quá hạn, phí và kỳ hạn trả nợ.

Hai bàn cân, một bên là chồng đồng xu nhỏ và một bên là chồng đồng xu lớn hơn nhiều, đặt trên một bản hợp đồng vay
Hai bàn cân với chồng đồng xu chênh lệch: cùng lãi suất 12%/năm, tổng lãi hai cách tính chênh 86.390.360 đồng.

Giữa kỳ vay: khi lãi suất đổi, khi muốn trả trước hạn hoặc vay thêm

Thời điểm thứ hai cần tính lại là bất kỳ lúc nào điều kiện vay đổi giữa kỳ, vì lịch trả nợ cũ chỉ còn đúng tới trước thời điểm thay đổi. Lấy ví dụ 400.000.000 đồng, 12%/năm, 48 tháng: sau 12 tháng trả đều, dư nợ còn 317.138.433 đồng. Nếu lãi suất thả nổi điều chỉnh từ 12%/năm lên 14%/năm tại thời điểm này, khoản trả cho 36 tháng còn lại tính lại thành 10.839.040 đồng/tháng, tăng 305.506 đồng/tháng so với mức cũ. Vì vậy nên tính lại ngay khi nhận thông báo điều chỉnh lãi suất và kiểm tra xem hợp đồng có ghi nguyên tắc và thời điểm điều chỉnh lãi suất hay không, vì Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN yêu cầu thỏa thuận về lãi suất có điều chỉnh phải ghi rõ nguyên tắc và các yếu tố xác định lãi suất điều chỉnh cùng thời điểm điều chỉnh.

Trả trước hạn một phần cũng là lúc cần tính lại, và phép tính ở đây trả lời một câu hỏi cụ thể: khoản trả thêm làm giảm bao nhiêu tiền lãi của các tháng sau. Với dư nợ 317.138.433 đồng sau tháng 12, trả thêm 50.000.000 đồng đưa dư nợ xuống còn 267.138.433 đồng, và khoản trả tính lại là 8.872.819 đồng/tháng nếu giữ nguyên 36 tháng còn lại ở lãi suất 12%/năm, giảm 1.660.715 đồng/tháng so với mức cũ. Trước khi trả thêm, bạn cần hỏi rõ phí trả trước hạn tính theo tỷ lệ nào trên số tiền trả trước, vì phí này trừ trực tiếp vào lợi ích của việc trả sớm. Tình huống vay thêm cũng cần phép tính mới hoàn toàn, vì số tiền vay tăng, kỳ hạn có thể kéo dài và lãi suất áp cho phần vay thêm có thể khác phần vay cũ.

Biểu đồ mũi tên đi lên phía trên một tờ lịch có các tháng được đánh dấu, bên cạnh là lọ đồng xu thủy tinh và một mô hình nhà nhỏ
Mũi tên đi lên trên tờ lịch và lọ đồng xu: lãi suất lên 14%/năm đẩy khoản trả còn lại lên 10.839.040 đồng/tháng.

Khi khoản trả bắt đầu nặng: dấu hiệu dòng tiền báo động và cách xử lý

Thời điểm thứ ba cần tính lại là khi khoản trả hàng tháng bắt đầu chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập, và dấu hiệu rõ nhất nằm ở tỷ lệ giữa khoản trả và thu nhập thực nhận. Với khoản trả 10.533.534 đồng/tháng, tỷ trọng này bằng 42% thu nhập 25.000.000 đồng/tháng, mức vẫn xoay xở được nếu chi tiêu thiết yếu được giữ chặt. Nếu thu nhập giảm xuống 18.000.000 đồng/tháng vì giảm giờ làm hoặc mất một nguồn thu phụ, cùng một khoản trả chiếm tới 59% thu nhập, và phần còn lại khó đủ cho tiền nhà, ăn uống, đi lại và quỹ dự phòng. Ba dấu hiệu báo động thường xuất hiện cùng lúc: phải dùng thẻ tín dụng hoặc vay mới để trả kỳ vay cũ, trễ hạn một vài ngày rồi trễ hạn cả tháng, và quỹ dự phòng cạn dần mà không có kế hoạch bù lại. Gặp một trong ba dấu hiệu này, phép tính cần làm ngay là cộng toàn bộ khoản trả hàng tháng, kể cả thẻ tín dụng và các khoản vay khác, rồi chia cho thu nhập thực nhận của tháng đó để nhìn rõ tỷ trọng tổng.

Khi tỷ trọng tổng đã cao, kéo dài kỳ hạn là phương án nhiều người nghĩ tới đầu tiên, và phép tính cho thấy rõ cái giá của phương án này. Với dư nợ 317.138.433 đồng sau tháng 12, kéo dài phần còn lại sang 48 tháng ở lãi suất 12%/năm cho khoản trả 8.351.471 đồng/tháng, nhẹ hơn 2.182.063 đồng/tháng so với mức cũ, nhưng tổng tiền trả phần còn lại lên tới 400.870.623 đồng, cao hơn 21.663.399 đồng so với giữ nguyên 36 tháng còn lại. Kéo dài kỳ hạn giúp thở được từng tháng nhưng làm tăng tổng lãi, vì vậy phương án này hợp lý khi mục tiêu là tránh trễ hạn trong vài tháng khó khăn. Cách xử lý đúng thứ tự là liên hệ bên cho vay sớm, trước kỳ trễ hạn đầu tiên, để hỏi về cơ cấu lại thời hạn trả nợ hoặc giảm khoản trả tạm thời, đồng thời cắt các khoản chi không thiết yếu.

Thử lại với số liệu của bạn

Trước khi chốt phương án trong ba tình huống trên, bạn có thể nhập lại số tiền vay, lãi suất, kỳ hạn và khoản trả thêm dự kiến vào Công cụ tính toán khoản vay và trả góp của Công Cụ Việt, đặt kết quả cạnh lịch trả nợ của bên cho vay để hỏi lại từng dòng lệch. Các thuật ngữ như gốc, lãi, dư nợ, ân hạn và APR được giải thích trong bài thuật ngữ về toán khoản vay và trả góp, và quy trình chuẩn bị số liệu, tính và đối chiếu nằm trong bài quy trình tính khoản vay và trả góp cho người mới.

Đèn giao thông cảnh báo màu vàng hổ phách bên cạnh biểu đồ tròn ngân sách tháng và lọ đồng xu thủy tinh đang vơi dần, gần đó là một chiếc ví
Đèn cảnh báo bên cạnh biểu đồ ngân sách và lọ đồng xu đang vơi: khoản trả chiếm 59% thu nhập cần tính lại và liên hệ bên cho vay sớm.

Checklist áp dụng nhanh

  • Trước khi ký, so sánh các gói vay bằng tổng lãi và phương pháp tính lãi, không chỉ bằng nhãn lãi suất, và hỏi rõ phí trả trước hạn cùng lãi quá hạn.
  • Mỗi lần lãi suất điều chỉnh, trả thêm gốc hoặc vay thêm, tính lại khoản trả từ dư nợ còn lại với lãi suất mới và số tháng còn lại, rồi đối chiếu với lịch mới của bên cho vay.
  • Khi tổng khoản trả vượt 50% thu nhập thực nhận hoặc xuất hiện dấu hiệu vay mới trả nợ cũ, liên hệ bên cho vay trước kỳ trễ hạn đầu tiên để hỏi phương án cơ cấu lại.

Câu hỏi thường gặp

Gói trả góp 0% có cần tính toán khoản vay không? Cần, vì mức 0% thường chỉ áp cho lãi suất trong thời gian ưu đãi, còn phí quản lý, phí chuyển đổi trả góp, bảo hiểm kèm theo và lãi suất sau thời gian ưu đãi vẫn làm tăng tổng chi phí. Cách kiểm tra là cộng toàn bộ phí trong hợp đồng vào tổng tiền trả rồi chia cho số tháng.

Lãi suất cố định suốt kỳ hạn thì có cần tính lại giữa kỳ không? Cần trong hai trường hợp: trả trước hạn một phần và vay thêm, vì cả hai đều làm đổi dư nợ tính lãi hoặc tổng nghĩa vụ hàng tháng dù lãi suất danh nghĩa không đổi. Đối chiếu lịch trả nợ với sao kê định kỳ cũng giúp phát hiện phí lạ hoặc kỳ trả bị ghi sai trước khi số tiền lệch tích lũy nhiều tháng.

Khoản vay đã ký rồi, tính lại còn ích gì? Tính lại giúp phát hiện gói vay đang tính lãi trên dư nợ gốc thay vì dư nợ giảm dần, kiểm tra xem bên cho vay có áp đúng lãi suất điều chỉnh đã thỏa thuận hay không, và quyết định trả thêm gốc hay kéo dài kỳ hạn dựa trên tổng lãi chứ không dựa trên cảm giác nhẹ từng tháng.

Kết quả trong bài là ước tính theo các giả định và biểu phí đã nêu, không thay thế hợp đồng hay xác nhận của bên cho vay.

Lý thuyết chỉ rõ một nửa bức tranh, nửa còn lại nằm ở các tình huống đời thật như đổi kỳ hạn, tất toán sớm hay chậm trả một kỳ. Bạn có thể xem tiếp ba tình huống thực tế với khoản vay trả góp và cách xử lý để hình dung trước cách xử lý khi gặp đúng trường hợp tương tự.

Bình luận vui vẻ - Yêu cầu nâng cấp

Cáo trợ lý