Quy trình tính khoản vay và trả góp cho người mới

Trang chủ / Blog / Quy trình tính khoản vay và trả góp cho người mới
Người dùng xem lịch trả nợ khoản vay trên laptop, bên cạnh là lọ đồng xu thủy tinh và tờ lịch treo tường
Người dùng xem lịch trả nợ khoản vay trên laptop, bên cạnh là lọ đồng xu thủy tinh và tờ lịch treo tường.

Quy trình tính toán khoản vay và trả góp là chuỗi bốn bước: chuẩn bị đủ số liệu, tính khoản trả hàng tháng, kiểm tra tổng lãi và đối chiếu kết quả với lịch trả nợ trong hợp đồng. Làm đủ bốn bước, bạn sẽ biết mỗi tháng trả bao nhiêu, trong đó bao nhiêu là gốc và bao nhiêu là lãi, và phát hiện sớm con số nào lệch trước khi ký. Bài viết dùng một ví dụ xuyên suốt để mọi con số đều đối chiếu được với nhau: vay 500.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm, kỳ hạn 36 tháng, trả góp đều hàng tháng.

Trước khi đi vào từng bước, bạn có thể nhập đúng ba con số của khoản vay đang cân nhắc vào Công cụ tính toán khoản vay và trả góp của Công Cụ Việt để có sẵn kết quả đối chiếu khi đọc tới phần tính toán và phần đối chiếu dưới đây.

Cập nhật ngày 02/11/2026. Lãi suất và phí của từng gói vay thay đổi theo biểu phí của bên cho vay, vì vậy con số trên hợp đồng của bạn mới là căn cứ cuối cùng.

Chuẩn bị đủ bốn số liệu trước khi bấm tính

Phép tính chỉ đúng khi số liệu đầu vào đúng, và một khoản vay trả góp cần đúng bốn số liệu. Số liệu thứ nhất là số tiền vay thực nhận, tức số tiền giải ngân ghi trong hợp đồng, trong ví dụ này là 500.000.000 đồng. Số liệu thứ hai là lãi suất năm cùng cách tính lãi đi kèm: lãi suất ghi trên hợp đồng là 10%/năm, và bạn cần hỏi rõ lãi tính trên dư nợ giảm dần hay trên dư nợ gốc, lãi suất cố định suốt kỳ hạn hay thả nổi theo kỳ điều chỉnh. Số liệu thứ ba là kỳ hạn tính bằng tháng, ở đây là 36 tháng, và việc đổi nhầm năm sang tháng là lỗi sai phổ biến nhất khi tính tay. Số liệu thứ tư là các khoản phí: phí thẩm định, phí giải ngân, phí trả nợ trước hạn và phí chậm trả, vì những khoản này không nằm trong lãi suất danh nghĩa nhưng đều làm tăng tổng chi phí thực tế.

Khung pháp lý cũng đáng kiểm tra ngay từ bước chuẩn bị. Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định lãi suất vay do các bên thỏa thuận, và với hợp đồng vay dân sự, lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, phần lãi vượt mức này không có hiệu lực. Với khoản vay từ tổ chức tín dụng, lãi suất thực hiện theo thỏa thuận và quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN yêu cầu thỏa thuận trong hợp đồng phải ghi rõ mức lãi suất và phương pháp tính lãi, trường hợp không tính theo số dư thực tế thì phải ghi mức lãi suất quy đổi theo %/năm tính trên số dư thực tế và thời gian duy trì số dư đó. Điều 16 và Điều 18 của cùng thông tư yêu cầu bên cho vay cung cấp trước các thông tin về lãi suất, phương pháp tính lãi, lãi quá hạn, phí, kỳ hạn trả nợ và thứ tự thu nợ. Một hợp đồng thiếu những dòng này là dấu hiệu cần hỏi lại trước khi ký, không phải chi tiết có thể bỏ qua.

Sổ tay ghi danh sách kiểm tra bên cạnh máy tính, kính lúp đặt trên bản hợp đồng và một chồng đồng xu nhỏ
Sổ tay ghi đủ bốn số liệu, máy tính và kính lúp đặt trên bản hợp đồng: chuẩn bị kỹ giúp phép tính sau đó không phải làm lại.

Tính khoản trả góp đều từng bước

Bước đầu tiên là đổi lãi suất năm sang lãi suất tháng. Lãi suất 10%/năm chia cho 12 tháng cho ra lãi suất tháng là 0,8333%, và đây là con số đưa vào công thức, không phải con số 10%. Bước thứ hai là áp công thức tính khoản trả đều hàng tháng, còn gọi là EMI:

EMI = Số tiền vay × lãi suất tháng × (1 + lãi suất tháng)^số tháng / ((1 + lãi suất tháng)^số tháng – 1)

Áp vào ví dụ 500.000.000 đồng, lãi 0,8333%/tháng, 36 tháng, khoản trả đều là 16.133.594 đồng/tháng, tổng số tiền trả sau 36 tháng là 580.809.369 đồng, tổng lãi là 80.809.369 đồng. Bước thứ ba là tách khoản trả đều thành gốc và lãi của vài tháng mốc để nhìn rõ cơ chế: tháng nào lãi cũng tính trên dư nợ còn lại của tháng đó, phần còn lại của khoản trả trừ vào gốc. Tháng 1, lãi là 4.166.667 đồng (500.000.000 đồng nhân 0,8333%), phần gốc trả được là 11.966.927 đồng, dư nợ sau tháng 1 còn 488.033.073 đồng. Đến tháng 12, lãi chỉ còn 3.022.829 đồng vì dư nợ đã giảm, phần gốc tăng lên 13.110.764 đồng, dư nợ còn 349.628.765 đồng. Tháng 36, lãi chỉ còn 133.335 đồng, phần gốc là 16.000.258 đồng và khoản vay hết hẳn. Lịch trả nợ đầy đủ là bảng liệt kê toàn bộ 36 tháng như vậy, và chính bảng này là thứ bạn sẽ đối chiếu với lịch của bên cho vay ở bước tiếp theo.

Một con số kiểm tra thêm giúp tránh nhầm lẫn về chi phí thực: với lãi 0,8333%/tháng nhập gốc hàng tháng, lãi suất hiệu dụng là 10,47%/năm, cao hơn mức danh nghĩa 10%/năm. Khoảng chênh này không phải sai sót, mà là hệ quả của việc lãi nhập gốc theo kỳ, và là lý do nên so sánh các gói vay bằng tổng lãi phải trả thay vì chỉ nhìn mức lãi suất ghi trên quảng cáo.

Máy tính bên cạnh các cột đồng xu thấp dần theo từng tháng và một tờ lịch nhỏ
Máy tính bên cạnh các cột đồng xu thấp dần theo từng tháng và một tờ lịch: lãi giảm dần khi dư nợ giảm, phần gốc tăng dần để khoản trả giữ nguyên.

Đối chiếu kết quả với lịch trả nợ của bên cho vay

Đối chiếu gồm ba phép kiểm tra, và chỉ cần một phép lệch là đủ lý do để hỏi lại. Phép thứ nhất là đối chiếu khoản trả hàng tháng: khoản trả đều tính được là 16.133.594 đồng, và lịch trả nợ của bên cho vay phải ghi đúng con số này ở mọi tháng khi lãi suất cố định. Phép thứ hai là đối chiếu tổng lãi: tổng số tiền trả 580.809.369 đồng trừ đi gốc 500.000.000 đồng phải bằng tổng lãi 80.809.369 đồng, và bất kỳ khoản chênh nào cũng cần được giải thích bằng một dòng cụ thể trong hợp đồng. Phép thứ ba là đối chiếu các khoản phí: phí thẩm định, phí giải ngân, phí trả trước hạn và lãi quá hạn có được cộng vào tổng chi phí hay chỉ nằm ở một phụ lục riêng, và phí trả trước hạn tính theo tỷ lệ nào trên dư nợ trả trước.

Trường hợp lệch phổ biến nhất là lãi tính trên dư nợ gốc, còn gọi là lãi phẳng, thay vì trên dư nợ giảm dần. Với cùng ví dụ 500.000.000 đồng và 10%/năm, lãi phẳng cho lãi 4.166.667 đồng mỗi tháng không đổi, tổng lãi lên tới 150.000.000 đồng, khoản trả mỗi tháng là 18.055.556 đồng, cao hơn tổng lãi của cách tính trên dư nợ giảm dần tới 69.190.631 đồng dù nhãn lãi suất vẫn ghi 10%/năm. Cách phát hiện rất đơn giản: nếu lịch trả nợ của bên cho vay ghi lãi tháng 12 vẫn bằng lãi tháng 1 trong khi dư nợ đã giảm, lãi đang tính trên dư nợ gốc. Khi đó, con số cần so sánh giữa các gói vay là tổng lãi và APR, không phải mức lãi suất danh nghĩa.

Khi đã có lịch trả nợ từ bên cho vay, bạn có thể nhập lại đúng số tiền, lãi suất và kỳ hạn vào Công cụ tính toán khoản vay và trả góp của Công Cụ Việt, đặt kết quả cạnh lịch trả nợ và đánh dấu từng dòng lệch để hỏi lại trước khi ký. Các thuật ngữ dùng trong lịch trả nợ như gốc, lãi, dư nợ, ân hạn và APR được giải thích kỹ trong bài thuật ngữ về toán khoản vay và trả góp, để bạn đọc lịch trả nợ mà không bị vấp ở từ ngữ.

Hai bản lịch trả đặt cạnh nhau dưới kính lúp, một bản đã đánh dấu kiểm xanh và một lọ đồng xu thủy tinh bên cạnh
Hai bản lịch trả đặt cạnh nhau dưới kính lúp, một bản đã đánh dấu kiểm: đối chiếu từng dòng giúp phát hiện con số lệch trước khi ký.

Checklist áp dụng nhanh

  • Ghi đủ bốn số liệu trước khi tính: số tiền giải ngân, lãi suất năm kèm cách tính lãi, kỳ hạn tính bằng tháng và toàn bộ phí đi kèm.
  • Tính khoản trả đều, tách gốc và lãi ở tháng 1, tháng 12 và tháng cuối, rồi đối chiếu cả ba phép kiểm tra với lịch trả nợ của bên cho vay.
  • So sánh các gói vay bằng tổng lãi và APR, hỏi rõ lãi tính trên dư nợ giảm dần hay dư nợ gốc và phí trả trước hạn trước khi ký.

Câu hỏi thường gặp

Lãi suất thả nổi đổi giữa kỳ thì tính lại từ đâu? Tính lại từ dư nợ còn lại tại kỳ điều chỉnh, với lãi suất mới và số tháng còn lại, giữ nguyên công thức trả góp đều. Lịch trả nợ cũ chỉ còn đúng tới trước kỳ điều chỉnh, và bên cho vay phải cấp lịch mới sau mỗi lần điều chỉnh lãi suất.

Trả thêm một phần gốc giữa kỳ thì lãi các tháng sau tính thế nào? Lãi tháng sau giảm ngay theo dư nợ mới, vì lãi tính trên số dư thực tế còn lại, và phần trả thêm làm giảm gốc tính lãi của mọi tháng tiếp theo. Cách kiểm tra là đối chiếu lịch trả nợ cập nhật mà bên cho vay cấp sau khi nhận khoản trả thêm, đồng thời hỏi rõ phí trả trước hạn áp cho khoản trả thêm đó.

Hợp đồng ghi lãi suất theo ngày thì đổi sang tháng ra sao? Lãi tháng bằng dư nợ nhân lãi suất ngày nhân số ngày thực tế của tháng đó, nên tháng 28 ngày và tháng 31 ngày cho khoản lãi khác nhau. Cách kiểm tra là hỏi rõ bên cho vay dùng tháng 30 ngày cố định hay số ngày thực tế, vì hai cách quy đổi này cho lịch trả khác nhau dù cùng một mức lãi ngày.

Kết quả trong bài là ước tính theo các giả định và biểu phí đã nêu, không thay thế hợp đồng hay xác nhận của bên cho vay.

Bình luận vui vẻ - Yêu cầu nâng cấp