Công cụ tính bảo hiểm xã hội (BHXH)

Trang chủ / Công cụ / Kế toán / Công cụ tính bảo hiểm xã hội (BHXH)
Sử dụng miễn phí Xử lý trực tiếp trên trình duyệt Kết quả tức thì
🤖 Chưa rõ cách dùng? Hỏi AI hướng dẫn
Mức lương đóng bảo hiểm (đ/tháng)

Nhập mức lương làm căn cứ đóng ghi trên hợp đồng, không phải toàn bộ thu nhập thực nhận.

Vùng doanh nghiệp hoạt động

Bộ thông số áp dụng

👤 NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐÓNG / THÁNG
0 đ
10,5% trên từng căn cứ sau khi áp trần
🏢 DOANH NGHIỆP ĐÓNG / THÁNG
0 đ
21,5% trên từng căn cứ sau khi áp trần

Căn cứ BHXH / BHYT
0
Căn cứ BHTN
0
Còn lại trước thuế
0
Tổng đóng cả năm (×12)
0

“Còn lại trước thuế” = lương nhập trừ phần người lao động đóng; chưa trừ thuế thu nhập cá nhân nên chưa phải lương thực nhận.

Chi tiết: bảng trích nộp, căn cứ & căn cứ pháp lý

Tỷ lệ cố định cả hai bộ thông số: người lao động BHXH 8% + BHYT 1,5% + BHTN 1% = 10,5%; doanh nghiệp BHXH 17,5% (hưu trí 14% + ốm đau 3% + tai nạn lao động 0,5%) + BHYT 3% + BHTN 1% = 21,5%. Mỗi khoản làm tròn đến đồng trước khi cộng thành tổng. Chỉ khi cả ba căn cứ đều bằng lương nhập thì tổng mới đúng bằng 10,5% / 21,5% lương.

Căn cứ: Nghị định 293/2025/NĐ-CP (lương tối thiểu vùng từ 01/01/2026: I 5.310.000đ, II 4.730.000đ, III 4.140.000đ, IV 3.700.000đ; trần BHTN = 20 lần mức vùng) và Nghị định 161/2026/NĐ-CP (lương cơ sở 2.530.000đ từ 01/07/2026; trần BHXH/BHYT = 20 lần = 50.600.000đ) theo hướng dẫn thu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bộ đối chiếu (trước 01/07/2026): lương cơ sở 2.340.000đ, trần BHXH/BHYT 46.800.000đ, lương tối thiểu vùng theo Nghị định 74/2024/NĐ-CP (I 4.960.000đ, II 4.410.000đ, III 3.860.000đ, IV 3.450.000đ). Kết quả mang tính tham khảo, không thay thế xác nhận của đơn vị phụ trách hoặc cơ quan bảo hiểm.

Hướng dẫn nhanh ⏱ Thời gian: 1 phút

Hướng dẫn sử dụng Công cụ tính bảo hiểm xã hội (BHXH)

Thực hiện theo 4 bước dưới đây để tính khoản bảo hiểm người lao động và doanh nghiệp đóng theo bộ thông số hiện tại, kèm bảng phân tích chi tiết và căn cứ áp trần.

Bước1

Nhập mức lương đóng bảo hiểm

Điền mức lương làm căn cứ đóng ghi trên hợp đồng vào ô “Mức lương đóng bảo hiểm (đ/tháng)”, ví dụ 15.000.000, hoặc bấm nhanh một chip “10tr”, “15tr”, “30tr”, “50tr”, “100tr”. Dòng chữ ngay dưới ô sẽ đọc số tiền bằng chữ để kiểm tra số đã gõ có đúng chưa.

💡 Mẹo: Kết quả tự cập nhật ngay khi bạn gõ — không cần bấm nút tính, cứ thay số và nhìn hai tổng đóng đổi theo.
Bước2

Chọn vùng và bộ thông số

Ở mục “Vùng doanh nghiệp hoạt động”, chọn “Vùng I”, “Vùng II”, “Vùng III” hoặc “Vùng IV” theo nơi doanh nghiệp hoạt động — vùng chỉ ảnh hưởng trần đóng BHTN. Ở mục “Bộ thông số áp dụng”, giữ lựa chọn “Hiện tại (từ 01/07/2026)” nếu tính kỳ lương hiện tại, hoặc chọn “Trước 01/07/2026 (đối chiếu)” khi cần tính lại kỳ lương cũ.

💡 Mẹo: Nếu lương của bạn chưa chạm trần nào thì đổi vùng không làm thay đổi kết quả; vùng chỉ tạo khác biệt khi lương đã vượt trần BHTN của vùng thấp hơn.
Bước3

Đọc hai tổng đóng và dòng kết luận

Xem tổng tại “👤 NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐÓNG / THÁNG” và “🏢 DOANH NGHIỆP ĐÓNG / THÁNG”, rồi đọc dòng kết luận ngay dưới: nó cho biết lương của bạn đã chạm trần BHXH/BHYT, trần BHTN hay chưa chạm trần nào. Bốn ô dưới là “Căn cứ BHXH / BHYT”, “Căn cứ BHTN”, “Còn lại trước thuế” và “Tổng đóng cả năm (×12)”.

💡 Mẹo: Dấu * ở ô căn cứ nghĩa là căn cứ đó đã bị giới hạn bởi trần — đó là lý do tổng đóng không còn bằng đúng 10,5% hay 21,5% lương nhập.
Bước4

Mở chi tiết và lưu kết quả

Mở mục “Chi tiết: bảng trích nộp, căn cứ & căn cứ pháp lý” để đối chiếu từng khoản BHXH, BHYT, BHTN của cả hai bên và xem căn cứ pháp lý áp dụng. Cần lưu lại thì bấm “📋 Sao chép kết quả” hoặc “⬇️ Tải kết quả (.txt)”.

💡 Mẹo: Nhập lương bằng 0 hoặc để trống thì công cụ hiện cảnh báo và ẩn kết quả cũ — nhập lại số lớn hơn 0 là kết quả hiện trở lại.

Nội Dung

Công cụ tính bảo hiểm xã hội (BHXH)
Công cụ ước tính khoản trích đóng BHXH, BHYT và BHTN trong tháng từ mức lương đóng bảo hiểm và vùng doanh nghiệp, tách riêng phần người lao động và phần doanh nghiệp.

Công cụ tính bảo hiểm xã hội là gì và tính khoản nào?

Công cụ tính bảo hiểm xã hội là tiện ích ước tính khoản tiền trích đóng bảo hiểm từ mức lương dùng để đóng bảo hiểm và vùng doanh nghiệp hoạt động. Công cụ tính ba khoản: bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Kết quả được tách thành phần người lao động đóng và phần doanh nghiệp đóng, kèm bảng chi tiết từng loại.

Nhu cầu phù hợp là đối chiếu khoản khấu trừ bảo hiểm trên bảng lương hoặc tham khảo phần đóng thêm của doanh nghiệp. Nếu nhập mức lương đóng bảo hiểm của một tháng, kết quả được hiểu là khoản đóng tương ứng với tháng đó, theo các tỷ lệ và mức trần đang được triển khai.

Đây không phải công cụ tính tiền hưởng BHXH một lần. Công cụ không nhận số năm tham gia, lịch sử mức lương đóng hay thông tin về thời điểm hưởng. Vì vậy, người đang tìm cách tính BHXH một lần không thể dùng các tổng tiền này làm số tiền dự kiến được nhận.

Các thông số trong bài mô tả đúng cơ chế của công cụ theo bộ thông số hiện tại (từ 01/07/2026). Công cụ còn có lựa chọn đối chiếu bộ thông số trước 01/07/2026 cho kỳ lương cũ. Dù vậy, vẫn cần phân biệt kết quả theo mô hình với khoản đóng được xác nhận cho hồ sơ thực tế.

Thuật ngữ bảo hiểm: BHXH, BHYT, BHTN
BHXH, BHYT và BHTN là ba khoản đóng riêng; người lao động đóng 8%, 1,5% và 1%, doanh nghiệp đóng 17,5%, 3% và 1%.

Các thuật ngữ cần hiểu khi tính khoản đóng bảo hiểm

Bảo hiểm xã hội (BHXH)

Theo kiến thức nền, BHXH là cơ chế bảo hiểm gắn với các chế độ an sinh của người tham gia khi đáp ứng điều kiện tương ứng, chẳng hạn những chế độ liên quan đến ốm đau, hưu trí hoặc tử tuất. Trong công cụ này, BHXH chỉ là một khoản đóng được tính bằng tỷ lệ trên căn cứ lương: người lao động 8%, doanh nghiệp 17,5%. Số tiền đóng không phải mức hưởng một chế độ và cũng không phải tiền BHXH một lần.

Bảo hiểm y tế (BHYT)

BHYT, xét về kiến thức nền, liên quan đến việc chi trả chi phí khám, chữa bệnh trong phạm vi và điều kiện hưởng. Vai trò của BHYT trong công cụ là một dòng trích đóng riêng, với tỷ lệ 1,5% cho người lao động và 3% cho doanh nghiệp. Khoản này dùng cùng mức trần căn cứ với BHXH. Không nên hiểu số tiền đóng BHYT mỗi tháng là hạn mức khám bệnh hoặc số tiền sẽ được thanh toán khi điều trị.

Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)

BHTN là bảo hiểm gắn với hỗ trợ người lao động khi thất nghiệp và những quyền lợi liên quan nếu đủ điều kiện. Công cụ chỉ xác định khoản đóng, không đánh giá điều kiện hoặc tính trợ cấp thất nghiệp. Mỗi bên được tính đóng 1% trên căn cứ BHTN. Điểm đáng chú ý là trần căn cứ này phụ thuộc vùng đã chọn, khác với trần BHXH và BHYT. Vì thế, vùng có thể ảnh hưởng kết quả khi lương đủ cao.

Mức lương đóng bảo hiểm

Mức lương đóng bảo hiểm là mức tiền lương được dùng làm căn cứ xác định khoản đóng, không mặc nhiên đồng nhất với toàn bộ thu nhập hay tiền nhận về. Đây là đầu vào tiền duy nhất của công cụ. Sau khi nhập, mức này còn được giới hạn bởi trần của từng loại bảo hiểm. Ví dụ, tổng thu nhập có những khoản không thuộc căn cứ đóng áp dụng cho hồ sơ thì nhập toàn bộ thu nhập có thể khiến phép đối chiếu sai lệch.

Mức trần đóng bảo hiểm

Mức trần là giới hạn trên của tiền lương được dùng làm căn cứ tính đóng trong mô hình, không phải giới hạn của thu nhập. Khi lương nhập vượt trần, phần vượt không làm tăng khoản đóng tương ứng. Công cụ có một trần chung cho BHXH và BHYT, cùng trần BHTN riêng theo vùng. Cần phân biệt trần với mức sàn hoặc mức lương tối thiểu: chương trình có chặn căn cứ ở phía trên nhưng không tự nâng lương thấp lên một mức sàn.

Nhập lương và vùng tính bảo hiểm
Nhập mức lương đóng bảo hiểm bằng đồng nguyên và chọn một trong bốn vùng; kết quả chỉ đúng khi dùng căn cứ đóng của đúng tháng cần đối chiếu.

Cần nhập gì và các kết quả có ý nghĩa thế nào?

Mức lương và vùng hoạt động

Đầu vào gồm mức lương đóng bảo hiểm bằng VNĐ và một trong bốn vùng doanh nghiệp hoạt động. Để đối chiếu bảng lương tháng, hãy dùng căn cứ đóng của đúng tháng cần kiểm tra. Không nên lấy tiền chuyển vào tài khoản làm đầu vào nếu chưa biết số đó gồm những khoản nào.

Trường tiền chỉ giữ các chữ số khi xử lý; dấu phân cách, dấu âm và chữ đều bị loại bỏ. Vì vậy, nên nhập số tiền nguyên đồng đầy đủ, như 15.000.000, thay vì “15 triệu”, số âm hoặc số thập phân. Việc loại dấu âm có thể khiến một số âm trở thành số dương, chứ không được hiểu là khoản giảm trừ.

Vùng mặc định là Vùng I và chỉ tác động đến trần BHTN. Công cụ chỉ ghi tên vùng, không liệt kê địa bàn, nên cần xác định vùng phù hợp với doanh nghiệp theo phụ lục lương tối thiểu vùng. Dòng đọc tiền thành chữ hỗ trợ đối chiếu số đã nhập, không xác nhận căn cứ lương hợp lệ.

Đọc hai tổng tiền và bảng chi tiết

Tổng người lao động đóng có dấu trừ, diễn đạt khoản khấu trừ từ lương; đó không phải một khoản đóng âm. Tổng doanh nghiệp đóng có dấu cộng, diễn đạt chi phí doanh nghiệp chịu thêm; số này không được cộng vào tiền nhận về của nhân viên.

Bảng chi tiết cho biết tỷ lệ và số tiền BHXH, BHYT, BHTN của từng bên. Nên đọc từng dòng trước khi so sánh tổng, vì các khoản có thể dùng căn cứ khác nhau sau khi áp trần. Tổng khấu trừ bảo hiểm không phải lương thực nhận và không bao gồm thuế.

Kết quả tự cập nhật ngay khi sửa lương, vùng hoặc bộ thông số. Không cần bấm nút tính. Khi lương nhập bằng 0 hoặc để trống, công cụ hiện cảnh báo và ẩn kết quả cũ thay vì giữ số của lần nhập trước.

Cách tính khoản đóng và mức trần bảo hiểm
Mỗi khoản bằng căn cứ đóng nhân tỷ lệ; căn cứ là lương nhập nhưng tối đa bằng mức trần tương ứng, và mỗi dòng được làm tròn tới đồng nguyên trước khi cộng tổng.

Cách tính khoản đóng và áp dụng mức trần trong công cụ

Tỷ lệ đóng của người lao động và doanh nghiệp

Mỗi khoản được tính bằng căn cứ đóng tương ứng nhân tỷ lệ của bên đóng. Bộ tỷ lệ cố định trong mã nguồn như sau:

Loại bảo hiểm Người lao động Doanh nghiệp Căn cứ sử dụng
BHXH 8% 17,5% Lương nhập, tối đa bằng trần BHXH
BHYT 1,5% 3% Lương nhập, tối đa bằng trần BHYT
BHTN 1% 1% Lương nhập, tối đa bằng trần BHTN của vùng

Cộng các tỷ lệ cho ra 10,5% đối với người lao động và 21,5% đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ có thể nhân trực tiếp các tỷ lệ tổng này với lương khi cả ba căn cứ đều bằng mức lương đó, đồng thời lưu ý cách làm tròn từng khoản.

Trần BHXH, BHYT và trần BHTN theo vùng

Quy tắc chọn căn cứ là lấy số nhỏ hơn giữa mức lương nhập và mức trần. Bộ thông số hiện tại (từ 01/07/2026): trần BHXH và BHYT cùng bằng 20 × 2.530.000 = 50.600.000 VNĐ. Trần BHTN bằng 20 lần mức lương tối thiểu vùng 2026:

Vùng Mức lương vùng trong cấu hình Trần BHTN
I 5.310.000 VNĐ 106.200.000 VNĐ
II 4.730.000 VNĐ 94.600.000 VNĐ
III 4.140.000 VNĐ 82.800.000 VNĐ
IV 3.700.000 VNĐ 74.000.000 VNĐ

Ví dụ, một mức lương có thể vượt 50.600.000 VNĐ nhưng vẫn thấp hơn trần BHTN. Khi ấy, BHXH và BHYT dùng căn cứ đã bị giới hạn, còn BHTN tiếp tục dùng lương nhập. Nhân toàn bộ lương với tỷ lệ tổng sẽ không phản ánh cơ chế này. Chế độ đối chiếu (trước 01/07/2026) dùng trần BHXH/BHYT 46.800.000 VNĐ và trần BHTN theo lương tối thiểu vùng cũ (I 99.200.000 VNĐ, II 88.200.000 VNĐ, III 77.200.000 VNĐ, IV 69.000.000 VNĐ).

Làm tròn và cộng tổng

Công cụ làm tròn từng khoản bảo hiểm của từng bên đến đơn vị đồng trước, rồi mới cộng ba khoản thành tổng. Với số dương, phần lẻ từ 0,5 đồng được làm tròn lên. Cách này có thể khác làm tròn duy nhất một lần sau khi cộng các giá trị chưa làm tròn.

Công cụ có lựa chọn bộ thông số hiện tại và bộ đối chiếu trước 01/07/2026, nhưng không tự đổi thông số theo từng tháng trong năm. Do đó, các công thức trên mô tả hai bộ thông số triển khai, không phải xác nhận rằng chúng áp dụng cho mọi kỳ lương hoặc mọi đối tượng tham gia.

Ví dụ tính khoản đóng dưới và vượt mức trần
Ví dụ lương 15.000.000 đồng vùng I chưa chạm trần: người lao động đóng 1.575.000 đồng, doanh nghiệp đóng 3.225.000 đồng.

Ví dụ tính khoản đóng khi lương dưới và vượt mức trần

Lương 15 triệu đồng: chưa chạm trần

Giả định mức lương đóng bảo hiểm của tháng là 15.000.000 VNĐ, chọn Vùng I. Mức này thấp hơn cả trần BHXH/BHYT và trần BHTN, nên ba căn cứ đều bằng 15.000.000 VNĐ. Các số dưới đây được tính bằng công thức của công cụ nguồn.

Khoản đóng Người lao động Doanh nghiệp
BHXH 1.200.000 VNĐ 2.625.000 VNĐ
BHYT 225.000 VNĐ 450.000 VNĐ
BHTN 150.000 VNĐ 150.000 VNĐ
Tổng 1.575.000 VNĐ 3.225.000 VNĐ

Trong tình huống này, tổng người lao động bằng 10,5% lương và tổng doanh nghiệp bằng 21,5% lương. Khoản 1.575.000 VNĐ là phần bảo hiểm của nhân viên; khoản 3.225.000 VNĐ là phần doanh nghiệp đóng, không phải tiền thưởng hay quyền lợi được nhận ngay.

Lương 60 triệu đồng: BHXH và BHYT đã chạm trần

Giả định lương đóng bảo hiểm tháng là 60.000.000 VNĐ tại Vùng IV, theo bộ thông số hiện tại. BHXH và BHYT dùng căn cứ 50.600.000 VNĐ. BHTN vẫn dùng 60.000.000 VNĐ vì chưa vượt trần Vùng IV là 74.000.000 VNĐ.

Khoản đóng Người lao động Doanh nghiệp
BHXH 4.048.000 VNĐ 8.855.000 VNĐ
BHYT 759.000 VNĐ 1.518.000 VNĐ
BHTN 600.000 VNĐ 600.000 VNĐ
Tổng 5.407.000 VNĐ 10.973.000 VNĐ

Không thể lấy 60.000.000 VNĐ nhân trực tiếp 10,5% hoặc 21,5% để ra các tổng trên. Điểm quyết định là hai loại bảo hiểm đã bị giới hạn căn cứ. Đây vẫn là khoản đóng của tháng giả định, không phải mức hưởng bảo hiểm. Với bộ đối chiếu trước 01/07/2026, cùng ví dụ này cho tổng 5.046.000 VNĐ (người lao động) và 10.194.000 VNĐ (doanh nghiệp), vì trần BHXH/BHYT khi đó là 46.800.000 VNĐ.

Lương 100 triệu đồng: khác biệt do vùng

Giả định lương đóng bảo hiểm tháng là 100.000.000 VNĐ, đối chiếu Vùng I và Vùng IV theo bộ thông số hiện tại. Cả hai vùng đều dùng căn cứ BHXH/BHYT là 50.600.000 VNĐ. Riêng BHTN dùng 100.000.000 VNĐ ở Vùng I (chưa vượt trần 106.200.000 VNĐ) và 74.000.000 VNĐ ở Vùng IV.

Kết quả Vùng I Vùng IV
BHTN của mỗi bên 1.000.000 VNĐ 740.000 VNĐ
Tổng người lao động 5.807.000 VNĐ 5.547.000 VNĐ
Tổng doanh nghiệp 11.373.000 VNĐ 11.113.000 VNĐ

Chênh lệch tổng của mỗi bên là 260.000 VNĐ, hoàn toàn từ BHTN. So sánh này minh họa tác động của vùng trong mô hình; doanh nghiệp không được tùy chọn vùng thấp hơn chỉ để giảm khoản đóng thực tế. Với bộ đối chiếu trước 01/07/2026, BHTN dùng 99.200.000 VNĐ ở Vùng I và 69.000.000 VNĐ ở Vùng IV, tổng người lao động là 5.438.000 VNĐ và 5.136.000 VNĐ, chênh lệch 302.000 VNĐ.

Đối chiếu bảng lương bằng kết quả bảo hiểm
So sánh từng dòng BHXH, BHYT và BHTN trên bảng lương với bảng chi tiết để xác định chênh lệch nằm ở loại bảo hiểm nào.

Dùng kết quả để đối chiếu bảng lương và dự kiến chi phí

Đối chiếu phần khấu trừ của người lao động

Người lao động nên so sánh từng dòng BHXH, BHYT và BHTN trên bảng lương với bảng chi tiết, thay vì chỉ nhìn tổng khấu trừ. Cách này giúp nhận diện chênh lệch nằm ở loại bảo hiểm nào, nhất là khi lương đã vượt một trong các trần.

Trước khi đối chiếu, cần bảo đảm đầu vào là căn cứ đóng của cùng kỳ lương. Nếu bảng lương có điều chỉnh hoặc khoản truy thu riêng, tổng hiển thị trên đó có thể không tương ứng với một phép tính tháng đơn giản. Khi thấy khác biệt, nên hỏi đơn vị phụ trách về căn cứ, vùng, đối tượng tham gia và thông số áp dụng; không kết luận sai phạm chỉ từ kết quả công cụ.

Tham khảo phần đóng của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có thể dùng tổng phần đóng của mình để tham khảo một cấu phần chi phí nhân sự. Khoản này khác phần bị khấu trừ của nhân viên, nên không nên gộp cả hai rồi coi toàn bộ là chi phí đóng thêm của doanh nghiệp.

So sánh một số mức lương đóng giả định cũng giúp nhận biết khoản nào còn tăng, khoản nào đã dừng tăng do trần. Tuy nhiên, số này không đại diện toàn bộ chi phí sử dụng lao động: mô hình không tính thưởng, phúc lợi, chi phí tuyển dụng hoặc những nghĩa vụ khác. Giá trị tham khảo hữu ích nhất khi căn cứ lương và bộ tỷ lệ đã được xác nhận phù hợp với trường hợp cần dự toán.

Tính khoản đóng bảo hiểm khác gì tính BHXH một lần?

Khác nhau về mục tiêu và dữ liệu

Tính khoản đóng nhằm xác định số tiền phải trích nộp trong một kỳ theo căn cứ lương. Tính BHXH một lần lại là nhu cầu xác định khoản hưởng gắn với điều kiện và quá trình tham gia. Hai câu hỏi này khác nhau ngay từ mục tiêu, dù cùng sử dụng thuật ngữ BHXH.

Công cụ hiện có chỉ nhận một mức lương và một vùng. Nó không thu thập lịch sử đóng, các giai đoạn tham gia hay dữ liệu thời điểm để đánh giá khoản hưởng BHXH một lần. Vì vậy, nếu mục tiêu là biết số tiền có thể nhận khi giải quyết chế độ, bảng trích đóng ở đây không cung cấp câu trả lời đó.

Vì sao không thể đổi khoản đóng thành khoản hưởng?

Các tổng tiền thể hiện nghĩa vụ đóng theo mô hình, không phải số dư tài khoản cá nhân có thể rút. Hơn nữa, tổng hiển thị còn bao gồm BHYT và BHTN, nên gọi toàn bộ là “tiền BHXH đã tích lũy” sẽ sai về phạm vi.

Không nên lấy tổng đóng của một tháng nhân số tháng hoặc số năm để suy ra tiền hưởng BHXH một lần. Cách làm đó vừa bỏ qua biến động quá trình tham gia, vừa coi khoản đóng và khoản hưởng là một đại lượng. Bài viết không đưa công thức hưởng chưa có nguồn xác nhận; mục đích ở đây là giúp nhận diện đúng nhu cầu và tránh dùng một kết quả trích đóng để ra quyết định về quyền lợi.

Giới hạn kết quả tính bảo hiểm
Kết quả là số tham khảo theo bộ thông số cố định trong công cụ; trước khi dùng cho bảng lương chính thức cần đối chiếu thông số, đối tượng và kỳ đóng.

Giới hạn của kết quả và những điều cần xác minh

Thông số triển khai không đồng nghĩa quy định mới nhất

Mã nguồn sử dụng một bộ tỷ lệ và hai bộ mức trần cố định (hiện tại và đối chiếu). Bộ hiện tại đã được đối chiếu với Nghị định 293/2025/NĐ-CP và Nghị định 161/2026/NĐ-CP, nhưng điều đó không khẳng định công cụ phù hợp mọi đối tượng tham gia.

Cũng chưa có nguồn pháp lý kèm theo để xác nhận toàn bộ địa bàn thuộc từng vùng và các trường hợp ngoại lệ. Trước khi dùng số tham khảo cho bảng lương chính thức, cần đối chiếu thông số áp dụng tại kỳ đóng và đối tượng cụ thể.

Trường hợp cần kiểm tra thêm trước khi sử dụng

Chương trình chỉ yêu cầu mức lương sau xử lý lớn hơn 0; nó không kiểm tra mức sàn hay tính hợp lệ của căn cứ đóng. Một số dương thấp vẫn có thể được tính, nhưng khả năng tính được không đồng nghĩa hồ sơ hợp lệ. Công cụ cũng không có lựa chọn cho những trường hợp áp dụng tỷ lệ khác.

Kết quả không cung cấp thuế thu nhập cá nhân, lương thực nhận đầy đủ, mức hưởng bảo hiểm, điều kiện hưởng hoặc BHXH một lần. Dòng tiền bằng chữ không phải chứng nhận số tiền. Không nên suy ra chương trình xử lý chính xác mọi số lớn tùy ý vì chưa có kiểm tra giới hạn độ lớn đầu vào.

Thông tin về toàn bộ trang web chưa được công bố, nên không thể cam kết dữ liệu chỉ xử lý cục bộ, không được lưu hoặc bảo mật tuyệt đối. Hãy dùng kết quả như số tham khảo để đối chiếu hồ sơ, không thay thế xác nhận của đơn vị phụ trách hoặc cơ quan có thẩm quyền.

Câu hỏi thường gặp

Tôi muốn tính tiền BHXH một lần thì dùng công cụ này được không?

Không. Công cụ này tính khoản trích đóng BHXH, BHYT và BHTN, không tính khoản hưởng BHXH một lần. Hai tổng kết quả là nghĩa vụ đóng của người lao động và doanh nghiệp theo mức lương giả định. Công cụ không nhận quá trình tham gia hay thông tin cần để đánh giá quyền lợi đó. Nếu mục tiêu là ước tính tiền hưởng, cần tìm phương thức phù hợp với nhu cầu và xác minh điều kiện áp dụng; đừng dùng tổng đóng ở đây làm khoản tiền có thể rút.

Các mức trần trong công cụ đã được xác minh cho năm 2026 chưa?

Đã xác minh cho bộ thông số hiện tại: trần BHXH/BHYT 50.600.000 VNĐ (20 lần lương cơ sở 2.530.000 VNĐ từ 01/07/2026, Nghị định 161/2026/NĐ-CP) và trần BHTN theo lương tối thiểu vùng 2026 (Nghị định 293/2025/NĐ-CP). Khi tính kỳ lương trước 01/07/2026, chọn bộ đối chiếu trong công cụ. Một phép tính đúng với cấu hình vẫn có thể không đại diện khoản đóng theo quy định của đối tượng cụ thể, nên cần đối chiếu thêm trước khi dùng cho hồ sơ chính thức.

Vì sao tiền người lao động đóng không bằng 10,5% mức lương tôi nhập?

Nguyên nhân thường nằm ở mức trần: ba khoản bảo hiểm không nhất thiết cùng dùng toàn bộ lương nhập. BHXH và BHYT có thể đã chạm trần trong khi BHTN còn dùng căn cứ cao hơn, hoặc tất cả đều đã bị giới hạn. Nhãn 10,5% là tổng các tỷ lệ thành phần, không phải cam kết luôn lấy 10,5% thu nhập. Ngoài ra, chương trình làm tròn từng khoản trước khi cộng. Hãy kiểm tra căn cứ và từng dòng chi tiết thay vì chỉ so tổng với một phép nhân.

Chọn vùng khác có làm thay đổi cả BHXH và BHYT không?

Không, vùng chỉ thay đổi trần căn cứ đóng BHTN. BHXH và BHYT vẫn dùng trần chung 46.800.000 VNĐ bất kể lựa chọn vùng. Nếu lương thấp hơn trần BHTN của các vùng đang so sánh, thay vùng còn có thể không làm thay đổi bất kỳ khoản nào. Sự khác biệt xuất hiện khi mức lương vượt trần BHTN liên quan. Vùng dùng cho hồ sơ thực tế phải được xác định theo doanh nghiệp, không chọn theo kết quả mong muốn.

Tôi vừa sửa mức lương hoặc vùng, vì sao kết quả vẫn giữ nguyên?

Phiên bản hiện tại tính trực tiếp: sửa lương, vùng hoặc bộ thông số là kết quả cập nhật ngay, không còn giữ số của lần tính trước. Chỉ khi lương nhập bằng 0 hoặc để trống, công cụ mới ẩn kết quả và hiện cảnh báo cho đến khi nhập lại số hợp lệ.

Có thể lấy lương trừ tổng bảo hiểm để biết chính xác lương thực nhận không?

Không thể kết luận chính xác lương thực nhận chỉ bằng phép trừ đó. Tổng bảo hiểm là một nhóm khấu trừ, trong khi tiền nhận về còn có thể chịu ảnh hưởng của thuế, khoản điều chỉnh và các thành phần khác trên bảng lương. Hơn nữa, mức lương đóng bảo hiểm được nhập chưa chắc là toàn bộ thu nhập trước khấu trừ. Phép trừ chỉ mô tả phần còn lại sau bảo hiểm nếu các giả định phù hợp; công cụ không có phép tính lương thực nhận đầy đủ.

Công cụ vẫn tính được khi lương thấp hơn mức tối thiểu vùng, vậy mức đóng đó có hợp lệ không?

Chưa thể xác định tính hợp lệ chỉ từ việc công cụ trả ra số tiền. Chương trình kiểm tra đầu vào sau xử lý có lớn hơn 0 hay không, nhưng không kiểm tra mức sàn đóng hoặc tự nâng căn cứ lên mức tối thiểu. Các mức lương vùng trong cấu hình được dùng để tính trần BHTN, không làm bước kiểm tra sàn. Muốn đánh giá khoản đóng thực tế, cần đối chiếu hồ sơ, đối tượng tham gia và quy định áp dụng với đơn vị phụ trách hoặc cơ quan có thẩm quyền.

Công cụ liên quan

Các khoản bảo hiểm là một phần của phép quy đổi lương: dùng công cụ tính lương Gross sang Net để xem bảo hiểm được trừ thế nào trước khi ra lương Net, công cụ tính lương Net sang Gross khi tính ngược từ số thực nhận, và công cụ tính BHXH một lần theo Luật BHXH 2024 khi bạn cân nhắc rút BHXH một lần thay vì đóng tiếp chờ lương hưu. Khi cần tính thuế trên lương sau khi trừ bảo hiểm, dùng công cụ tính thuế TNCN; và khi tính thêm giờ làm ngoài giờ, dùng công cụ tính lương tăng ca và ca đêm.

Bình luận vui vẻ - Yêu cầu nâng cấp