Tính thời gian tồn kho – Inventory Period Calculator

Trang chủ / Công cụ / Doanh Nghiệp / Hiệu quả hoạt động / Tính thời gian tồn kho – Inventory Period Calculator
★ 4.8/5 | 156 đánh giá
▼
Đánh giá công cụ:
★ ★ ★ ★ ★
Tính thời gian tồn kho – Inventory Period Calculator

Công cụ tính Thời gian tồn kho (Inventory Period Calculator) là giải pháp quản trị kho bãi chuyên sâu, giúp doanh nghiệp đo lường chính xác số ngày trung bình để giải phóng toàn bộ hàng hóa. Thông qua việc phân tích dữ liệu nhập xuất, công cụ giúp nhà quản lý tối ưu hóa dòng tiền, giảm thiểu chi phí lưu trữ và chủ động lên kế hoạch nhập hàng kịp thời.

⏱️ Tính thời gian tồn kho

Đo lường thời gian trung bình (số ngày) cần thiết để bán hết hàng tồn kho.

Không đồng
Không đồng
Không đồng
⚠️ Lỗi dữ liệu đầu vào!

📊 KẾT QUẢ

Sẵn sàng
THỜI GIAN TỒN KHO
0.0 ngày
HỆ SỐ QUAY VÒNG (TURNOVER)
0.00 vòng
TỒN KHO BÌNH QUÂN
0 đ
Hãy nhập số liệu để xem kết quả phân tích...

📌 Đánh giá chỉ số:

  • Thời gian ngắn: Tốc độ bán hàng nhanh, quản trị hàng tồn kho hiệu quả, ít đọng vốn.
  • Thời gian dài: Hàng hóa bán chậm, rủi ro lỗi thời, ứ đọng vốn (Tùy thuộc vào đặc thù ngành hàng).
Hướng dẫn nhanh ⏱ Thời gian: 1 phút

Hướng dẫn sử dụng Tính thời gian tồn kho

Thực hiện theo 4 bước dưới đây để tính số ngày trung bình bán hết hàng tồn kho và xem hệ số quay vòng.

Bước1

Nhập giá vốn và giá trị tồn kho

Điền số tiền vào ô “Giá vốn hàng bán (COGS)”, sau đó nhập “Đầu kỳ” và “Cuối kỳ” trong phần “Giá trị Tồn kho” cho cùng kỳ phân tích.

💡 Mẹo: Đối chiếu dòng đọc tiền bằng chữ dưới mỗi ô để kiểm tra số tiền đã nhập.
Bước2

Điền số ngày trong kỳ phân tích

Tại ô “Số ngày trong kỳ phân tích”, giữ 365 nếu tính theo năm hoặc thay bằng số ngày phù hợp, chẳng hạn 90 cho quý hay 30 cho tháng.

💡 Mẹo: Nếu để trống hoặc nhập 0, công cụ sẽ dùng mặc định 365 ngày để tính.
Bước3

Nhấn tính thời gian tồn kho

Nhấn “TÍNH THỜI GIAN TỒN KHO” để tính toán. Nếu xuất hiện thông báo lỗi, kiểm tra và sửa số liệu đầu vào rồi nhấn lại nút.

💡 Mẹo: Giá vốn hàng bán phải lớn hơn 0 và ít nhất một giá trị tồn kho phải lớn hơn 0.
Bước4

Xem kết quả và phần diễn giải

Trong phần “KẾT QUẢ”, xem “THỜI GIAN TỒN KHO” theo ngày, “HỆ SỐ QUAY VÒNG (TURNOVER)” và “TỒN KHO BÌNH QUÂN”. Đọc thêm “Diễn giải” để hiểu ý nghĩa số liệu.

Nội Dung

Công cụ tính thời gian tồn kho là gì?

Thời gian tồn kho là chỉ số ước tính số ngày cho một vòng luân chuyển hàng tồn kho, được tính từ giá vốn hàng bán, giá trị tồn kho bình quân và độ dài kỳ phân tích. Chỉ số này chuyển mối quan hệ giữa lượng vốn nằm trong hàng và giá vốn của hàng đã bán thành một đại lượng dễ đọc: số ngày.

Công cụ tính thời gian tồn kho nhận bốn đầu vào: giá vốn hàng bán trong kỳ, tồn kho đầu kỳ, tồn kho cuối kỳ và số ngày trong kỳ. Theo phần mã được cung cấp, công cụ trả về thời gian tồn kho, hệ số quay vòng hàng tồn kho, tồn kho bình quân và một câu diễn giải kết quả. Đây là cách hỗ trợ người dùng phân tích tốc độ luân chuyển từ số liệu kế toán tổng hợp.

Kết quả không phải tuổi thực tế của từng sản phẩm hoặc từng lô hàng. Công cụ không nhận ngày nhập kho, lịch bán hàng hay hạn sử dụng, nên không xác định được một lô đã nằm trong kho bao lâu và cũng không dự báo chắc chắn ngày bán hết kho.

Về kiến thức quản trị chung, số ngày ngắn thường gợi ý hàng luân chuyển nhanh hơn; số ngày dài có thể gắn với vốn nằm trong hàng lâu hơn. Tuy nhiên, cần đặt kết quả trong bối cảnh ngành, mùa vụ và chính sách dự trữ. Công cụ không thiết lập ngưỡng tự động để kết luận mức nào là tốt hoặc xấu.

Các thuật ngữ cần hiểu khi tính thời gian tồn kho

Giá vốn hàng bán (COGS)

Giá vốn hàng bán là giá trị chi phí của hàng đã bán trong kỳ theo số liệu kế toán. Đây không phải doanh thu, vì doanh thu phản ánh giá bán còn giá vốn phản ánh cơ sở chi phí. Trong công cụ, giá vốn được chia cho tồn kho bình quân để tính vòng quay. Nếu dùng doanh thu thay thế, kết quả vẫn có thể xuất hiện nhưng không còn phản ánh đúng chỉ số theo công thức đang áp dụng.

Tồn kho bình quân

Tồn kho bình quân là giá trị tồn kho đại diện cho kỳ phân tích. Công cụ lấy tổng giá trị đầu kỳ và cuối kỳ rồi chia hai. Chẳng hạn, hai mốc 100 triệu và 200 triệu đồng tạo ra bình quân 150 triệu đồng. Không nên nhầm số này với tồn kho cuối kỳ hoặc bình quân của mọi ngày trong kỳ. Hai mốc chỉ cung cấp một phép xấp xỉ, đặc biệt khi lượng hàng biến động mạnh ở giữa kỳ.

Hệ số quay vòng hàng tồn kho

Hệ số quay vòng hàng tồn kho là tỷ số giữa giá vốn hàng bán và tồn kho bình quân, cho biết số vòng luân chuyển theo kỳ đang xét. Đơn vị kết quả của công cụ là vòng/kỳ. Nếu kỳ có 90 ngày, kết quả 6 vòng nghĩa là 6 vòng trong 90 ngày, không phải 6 vòng mỗi năm. Chỉ khi số liệu đại diện cho một năm mới có thể diễn đạt tương ứng bằng vòng/năm.

Thời gian tồn kho (DIO)

DIO là cách gọi thường dùng trong phân tích tài chính cho chỉ số số ngày tồn kho. Chỉ số quy đổi tốc độ quay vòng thành khoảng thời gian ước tính cho một vòng bằng cách lấy số ngày của kỳ chia cho vòng quay. Đây là kiến thức nền về chỉ số, không phải một chế độ riêng của công cụ. DIO cũng không đồng nghĩa với thời gian lưu kho chính xác của một món hàng cụ thể.

Kỳ phân tích

Kỳ phân tích là khoảng thời gian mà giá vốn hàng bán và hai mốc tồn kho cùng đại diện. Độ dài kỳ được nhập bằng số ngày và quyết định cách hiểu kết quả vòng/kỳ. Ví dụ, phân tích một quý cần giá vốn của quý cùng tồn kho ở đầu và cuối quý đó. Không nên chọn số ngày độc lập với bộ số liệu, như dùng giá vốn cả năm nhưng chỉ nhập 30 ngày.

Dữ liệu đầu vào và cách đọc kết quả

Chuẩn bị số liệu cùng kỳ và cùng đơn vị

Ba giá trị tiền cần được chuẩn bị bằng đồng, cùng phạm vi hàng hóa và cùng cơ sở định giá phù hợp. Công cụ không tự đối chiếu báo cáo để phát hiện dữ liệu lệch kỳ hoặc khác đơn vị. Bảng dưới đây thể hiện ý nghĩa của từng đầu vào:

Đầu vào Đơn vị Điều kiện cần chú ý
Giá vốn hàng bán Đồng Giá vốn trong đúng kỳ phân tích; cần lớn hơn 0 để tính trong luồng nhập thông thường.
Tồn kho đầu kỳ Đồng Giá trị tại thời điểm bắt đầu kỳ; có thể bằng 0.
Tồn kho cuối kỳ Đồng Giá trị tại thời điểm kết thúc kỳ; không được đồng thời bằng 0 với đầu kỳ.
Số ngày trong kỳ Ngày Ban đầu là 365; nên chọn độ dài phù hợp với số liệu đang phân tích.

Với tháng hoặc quý, 30 và 90 ngày chỉ là những lựa chọn minh họa, không phải bắt buộc. Có thể dùng số ngày thực tế của kỳ. Các ô số tự phân nhóm hàng nghìn bằng dấu phẩy; ba ô tiền còn hiển thị cách đọc bằng chữ tiếng Việt để đối chiếu. Nếu báo cáo ghi “200 triệu đồng”, cần nhập 200000000, không nhập 200 rồi kỳ vọng công cụ tự hiểu đơn vị triệu.

Ý nghĩa của ba chỉ số kết quả

Thời gian tồn kho được hiển thị bằng ngày, với một chữ số sau dấu thập phân. Hệ số quay vòng được hiển thị bằng vòng/kỳ, với hai chữ số sau dấu thập phân; công cụ không tự chuyển kỳ tháng hoặc quý thành năm. Tồn kho bình quân được hiển thị bằng đồng, là giá trị trung gian dùng trong hai phép tính còn lại.

Câu diễn giải nêu số ngày ước tính và số lần quay vòng trong độ dài kỳ đã sử dụng. Nên đọc cả ba chỉ số cùng nhau: số ngày phản ánh tốc độ theo thời gian, vòng quay phản ánh số vòng trong kỳ, còn bình quân phản ánh cơ sở giá trị tồn kho của phép tính.

Công thức và quy tắc tính thời gian tồn kho

Ba công thức nối tiếp nhau

Logic tính toán trong mã được cung cấp gồm ba bước:

  1. Tồn kho bình quân = (Tồn kho đầu kỳ + Tồn kho cuối kỳ) / 2.
  2. Hệ số quay vòng = Giá vốn hàng bán trong kỳ / Tồn kho bình quân.
  3. Thời gian tồn kho = Số ngày trong kỳ / Hệ số quay vòng.

Công thức thứ ba cũng có thể viết thành: Thời gian tồn kho = Tồn kho bình quân × Số ngày trong kỳ / Giá vốn hàng bán. Khi hai giá trị tiền có cùng đơn vị, phần đơn vị tiền triệt tiêu, để lại kết quả bằng ngày. Vì vậy, sự nhất quán của dữ liệu quan trọng hơn việc chỉ có đủ bốn con số.

Giữ các yếu tố khác không đổi, tồn kho bình quân tăng sẽ làm vòng quay giảm và số ngày tăng. Ngược lại, giá vốn tăng trong khi tồn kho bình quân và độ dài kỳ không đổi sẽ làm vòng quay tăng, số ngày giảm. Đây là quan hệ toán học của chỉ số; nó chưa giải thích nguyên nhân kinh doanh đứng sau thay đổi.

Dữ liệu bằng 0 và quy tắc làm tròn

Công cụ kiểm tra tồn kho bình quân bằng 0 trước, rồi kiểm tra giá vốn bằng 0. Nếu cả hai cùng bằng 0, thông báo về tồn kho được ưu tiên. Một mốc tồn kho bằng 0 vẫn được tính nếu mốc còn lại lớn hơn 0. Riêng số ngày để trống hoặc bằng 0 được thay bằng 365, không tạo thông báo lỗi riêng.

Các phép chia dùng kết quả chưa làm tròn. Chỉ khi hiển thị, thời gian mới được làm tròn đến một chữ số thập phân và vòng quay đến hai chữ số. Không nên lấy vòng quay đã hiển thị để chia ngược, vì có thể tạo sai lệch. Tồn kho bình quân không được ép về số đồng nguyên nên có thể phát sinh phần lẻ 0,5 đồng.

Khi nhập, công cụ chỉ giữ chữ số và loại bỏ các ký tự khác. Dấu âm hoặc dấu thập phân không được xử lý theo nghĩa số học: nhập 12,5 sẽ thành 125. Đây là cơ chế thay đổi nội dung nhập, không phải cơ chế báo lỗi cho mọi số âm hay số lẻ.

Ví dụ tính thời gian tồn kho theo năm và theo quý

Tình huống kỳ phân tích 365 ngày

Giả định doanh nghiệp phân tích kỳ 365 ngày, có giá vốn hàng bán 1.200.000.000 đồng, tồn kho đầu kỳ 200.000.000 đồng và cuối kỳ 400.000.000 đồng. Các giá trị tiền cùng thuộc một phạm vi hàng hóa và cùng cơ sở định giá.

  • Tồn kho bình quân = (200.000.000 + 400.000.000) / 2 = 300.000.000 đồng.
  • Hệ số quay vòng = 1.200.000.000 / 300.000.000 = 4 vòng/kỳ.
  • Thời gian tồn kho = 365 / 4 = 91,25 ngày.

Theo quy tắc hiển thị trong mã, kết quả là 91.3 ngày, 4.00 vòng/kỳ và 300,000,000 đ. Có thể hiểu một vòng luân chuyển tương ứng khoảng 91,3 ngày theo số liệu giả định. Không thể suy ra mọi hàng đang nằm trong kho sẽ được bán hết sau đúng khoảng thời gian đó.

Tình huống kỳ phân tích 90 ngày

Giả định kỳ 90 ngày có giá vốn 900.000.000 đồng, tồn kho đầu kỳ 100.000.000 đồng và cuối kỳ 200.000.000 đồng. Bình quân hai mốc là 150.000.000 đồng. Chia giá vốn cho bình quân được 6 vòng trong kỳ; chia 90 ngày cho 6 được 15 ngày.

Kết quả hiển thị tương ứng là 15.0 ngày, 6.00 vòng/kỳ và 150,000,000 đ. Số 6 ở đây thuộc kỳ 90 ngày, không được đổi nhãn trực tiếp thành 6 vòng/năm. Cũng không nên kết luận ví dụ này quản trị tốt hơn ví dụ năm: hai bộ số liệu giả định không có thông tin chung về ngành, mùa vụ hoặc yêu cầu dự trữ.

Một mốc tồn kho bằng 0 và số ngày mặc định

Giả định giá vốn là 600.000.000 đồng, tồn kho đầu kỳ bằng 0 và cuối kỳ bằng 200.000.000 đồng. Tồn kho bình quân vẫn bằng 100.000.000 đồng, nên phép tính không bị dừng vì thiếu tồn kho.

Nếu số ngày nhập là 0, công cụ sử dụng 365 ngày. Khi đó vòng quay bằng 6 và thời gian bằng 365 / 6, hiển thị 60.8 ngày cùng 6.00 vòng/kỳ. Đây là kết quả của kỳ 365 ngày, không phải kỳ 0 ngày. Tất cả ví dụ trên được suy ra từ công thức và quy tắc trong mã, với số liệu giả định; không phải tuyên bố đã chạy thử công cụ.

Ứng dụng chỉ số trong quản trị hàng tồn kho

Theo dõi xu hướng qua các kỳ

Thời gian tồn kho có ích khi theo dõi tốc độ luân chuyển qua các kỳ có cách ghi nhận nhất quán. Cần giữ cùng phạm vi hàng hóa, cơ sở định giá và cách xác định kỳ để tránh coi thay đổi dữ liệu là thay đổi hiệu quả quản trị. Với hoạt động có mùa vụ, đối chiếu những kỳ tương đồng về mùa kinh doanh thường có ý nghĩa hơn so sánh hai kỳ liền nhau nhưng khác đặc điểm nhu cầu.

Nếu muốn theo dõi riêng từng nhóm hàng, cần chuẩn bị giá vốn và hai mốc tồn kho của chính nhóm đó. Công cụ chỉ tính trên số liệu được nhập, không tự tách danh mục hoặc phân loại hàng. Chỉ số toàn doanh nghiệp có thể che khuất tình trạng một nhóm bán nhanh trong khi nhóm khác nằm kho lâu.

Dùng kết quả để đặt câu hỏi quản trị

Số ngày tăng có thể là lý do để xem lại lượng nhập, cơ cấu hàng, tốc độ tiêu thụ hoặc biến động mùa vụ. Tuy nhiên, chỉ số không tự xác định nguyên nhân: tồn kho tăng để chuẩn bị cao điểm khác với tồn kho tăng do hàng khó bán.

Số ngày thấp có thể đi cùng ít vốn nằm trong hàng hơn, nhưng chưa chứng minh mức dự trữ là tối ưu. Doanh nghiệp vẫn có thể thiếu hàng hoặc bỏ lỡ đơn bán nếu dự trữ quá ít. Theo kiến thức quản trị chung, nên đối chiếu thêm báo cáo hàng chậm luân chuyển, kế hoạch mua hàng, thời gian cung ứng và đặc thù ngành. Những hoạt động đối chiếu này không phải chức năng được công cụ tự thực hiện.

Thời gian tồn kho khác vòng quay và tuổi hàng như thế nào?

Thời gian tồn kho và vòng quay là hai cách biểu đạt cùng quan hệ giữa giá vốn và tồn kho bình quân trong một kỳ. Tuổi hàng thực tế lại trả lời câu hỏi khác, cần thông tin chi tiết hơn số liệu kế toán tổng hợp.

Chỉ số Đơn vị Câu hỏi được trả lời Dữ liệu cần dùng
Thời gian tồn kho Ngày Một vòng luân chuyển tương ứng bao nhiêu ngày ước tính? Giá vốn, tồn kho bình quân và độ dài kỳ.
Hệ số quay vòng Vòng/kỳ Giá vốn tương đương bao nhiêu lần tồn kho bình quân? Giá vốn và tồn kho bình quân của cùng kỳ.
Tuổi hàng thực tế Ngày theo từng lô hoặc mặt hàng Hàng cụ thể đã nằm trong kho bao lâu? Ngày nhập và thông tin theo dõi từng lô hoặc mặt hàng.

Nếu cần tập trung vào cách đọc số vòng, có thể tham khảo công cụ tính vòng quay hàng tồn kho. Mối liên hệ về khái niệm không có nghĩa hai công cụ tự tích hợp hoặc chia sẻ dữ liệu.

Cũng cần phân biệt tồn kho bình quân bằng tiền với lượng tồn kho an toàn. Tồn kho an toàn thuộc bài toán dự trữ, thường cần thêm thông tin nhu cầu và thời gian cung ứng. Không thể chỉ dựa vào số ngày tồn kho để suy ra trực tiếp số lượng cần mua.

Giới hạn và những sai lệch cần tránh

Sai lệch do số liệu và cách tính bình quân

Bình quân đầu kỳ và cuối kỳ không phản ánh toàn bộ biến động ở giữa kỳ. Nếu doanh nghiệp nhập lượng hàng lớn rồi bán mạnh trước ngày chốt sổ, hai mốc có thể bỏ sót giai đoạn tồn kho cao. Công cụ không tính bình quân theo ngày, theo tháng hoặc có trọng số.

Những sai lệch khác gồm trộn số liệu khác kỳ, dùng doanh thu thay giá vốn, nhập giá trị triệu đồng như thể là đồng hoặc kết hợp các cơ sở định giá không nhất quán. Công cụ không tự kiểm tra các điều kiện này. Kết quả chỉ hỗ trợ phân tích, không phải cam kết doanh thu, lợi nhuận hay hiệu quả kinh doanh.

Lưu ý về nhập số và kết quả còn hiển thị

Dấu âm và dấu thập phân bị loại bỏ có thể khiến số được hiểu khác ý định. Hãy đối chiếu lại giá trị hiển thị và cách đọc tiền bằng chữ. Mã không khai báo giới hạn độ lớn đầu vào; số nguyên rất lớn có thể gặp giới hạn độ chính xác của cách biểu diễn số.

Vòng quay hiện 0.00 có thể do một giá trị dương rất nhỏ bị làm tròn, không có nghĩa giá vốn bằng 0 đã được chấp nhận. Sau một lần tính lỗi, kết quả hợp lệ cũ cũng có thể vẫn còn; không nên coi đó là kết quả mới. Ngoài ra, đoạn mã tính toán không đủ để kết luận toàn trang không lưu hoặc truyền dữ liệu, hay bảo đảm bảo mật tuyệt đối.

Câu hỏi thường gặp

Tính cho một quý có bắt buộc nhập 90 ngày không?

Không. Số 90 là ví dụ cho độ dài một quý, không phải quy tắc bắt buộc trong mã. Bạn có thể dùng số ngày thực tế của quý đang phân tích, miễn là giá vốn và các mốc tồn kho tương ứng đúng khoảng thời gian đó. Điều cần tránh là giữ nguyên một bộ số liệu rồi đổi số ngày chỉ để tạo kết quả mong muốn. Độ dài kỳ phải mô tả kỳ kế toán đang xét, không phải một lựa chọn tách rời dữ liệu.

Để trống hoặc nhập 0 ở số ngày thì công cụ dùng kỳ nào?

Công cụ dùng 365 ngày trong cả hai trường hợp. Đây là quy tắc thay thế được xác nhận trong mã, không phải dấu hiệu công cụ đã nhận diện bộ số liệu là số liệu năm. Nếu bạn đang phân tích tháng hoặc quý mà quên nhập ngày, kết quả vẫn được tính theo 365 ngày và có thể không phù hợp. Vì vậy, cần kiểm tra độ dài kỳ trong phần diễn giải, thay vì chỉ nhìn con số ngày tồn kho ở ô kết quả chính.

Có thể dùng doanh thu thay cho giá vốn hàng bán không?

Không nên dùng doanh thu nếu mục tiêu là tính đúng chỉ số theo công thức của công cụ. Doanh thu và giá vốn có cơ sở khác nhau; doanh thu còn chịu ảnh hưởng của giá bán và biên lợi nhuận. Công cụ không biết một số tiền được lấy từ dòng nào trong báo cáo, nên vẫn có thể tính khi bạn nhập doanh thu. Việc có kết quả không chứng minh dữ liệu phù hợp. Hãy lấy giá vốn của cùng kỳ và cùng phạm vi hàng hóa với tồn kho.

Tồn kho đầu kỳ bằng 0 có tính được không, và nếu giá vốn bằng 0 thì sao?

Tồn kho đầu kỳ bằng 0 vẫn tính được nếu tồn kho cuối kỳ lớn hơn 0 và giá vốn lớn hơn 0. Khi đó bình quân hai mốc vẫn dương. Nếu cả hai mốc tồn kho đều bằng 0, công cụ dừng và thông báo lỗi về tồn kho. Nếu bình quân tồn kho khác 0 nhưng giá vốn bằng 0, công cụ dừng ở kiểm tra giá vốn. Trường hợp cả tồn kho bình quân và giá vốn cùng bằng 0, thông báo về tồn kho xuất hiện trước.

Vì sao số âm hoặc số thập phân tôi nhập lại biến thành số khác?

Vì bộ xử lý đầu vào chỉ giữ các chữ số, còn dấu âm, dấu chấm, dấu phẩy và những ký tự khác đều bị loại bỏ trước khi định dạng lại. Chẳng hạn, -100 trở thành 100, còn 12,5 trở thành 125. Công cụ không diễn giải những dấu đó thành phép tính số âm hoặc phần thập phân. Hãy kiểm tra số sau khi nhập; không dùng cách nhập này cho dữ liệu cần giữ dấu hoặc phần lẻ vì ý nghĩa sẽ bị thay đổi.

Kết quả 15 ngày có nghĩa toàn bộ hàng sẽ bán hết sau đúng 15 ngày không?

Không. Kết quả 15 ngày là thời gian ước tính cho một vòng luân chuyển dựa trên giá vốn và tồn kho bình quân của kỳ đã nhập. Nó không chứa thông tin về nhu cầu tương lai, từng sản phẩm, lượng hàng có thể bán hay thời điểm bổ sung hàng mới. Trong thực tế, các mặt hàng có thể bán với tốc độ rất khác nhau. Muốn dự kiến lịch bán hết hàng, cần thêm dữ liệu và phương pháp phù hợp; không thể coi chỉ số tổng hợp này là một lịch cam kết.

Vì sao vẫn thấy kết quả cũ sau khi công cụ báo lỗi?

Vì khi phát hiện tồn kho bình quân hoặc giá vốn bằng 0, mã hiển thị thông báo lỗi rồi dừng mà không xóa các chỉ số đã tính trước đó. Trạng thái hoàn thành từ lần hợp lệ trước cũng có thể còn trên màn hình. Do đó, một con số vẫn hiện không có nghĩa dữ liệu vừa nhập đã được xử lý thành công. Khi có thông báo lỗi, hãy coi lần tính hiện tại chưa tạo kết quả mới và chỉ dùng kết quả sau khi dữ liệu được tính hợp lệ trở lại.

17 bình luận

  • Lê Thị Quang

    Công cụ này dùng giá vốn hàng bán hay doanh thu để tính vậy mọi người? Mình sợ nhập nhầm rồi ra kết quả sai.

  • Nếu mình muốn tính theo quý thì dùng số ngày thực tế của quý hay mặc định 90 ngày vậy?

  • Dương Hữu Phúc

    Nếu giá vốn hàng bán bằng 0 thì công cụ xử lý thế nào ạ? Bên mình có kỳ chưa phát sinh bán hàng.

  • Phạm Thị Sơn

    Giao diện gọn, không bị rối mắt. Với người chỉ cần tính nhanh như mình thì vậy là ổn.

  • Lý Hữu Linh

    Nhập thử số liệu tháng này mà thấy hàng nằm kho lâu hơn mình tưởng 😅 Có số cụ thể nhìn dễ nhận ra vấn đề hơn.

  • Hồ Xuân Quyên

    Mục tính vòng quay tổng tài sản có liên quan thế nào với thời gian tồn kho vậy? Mình muốn xem thêm hiệu quả sử dụng vốn.

  • Võ Tuấn Châu

    Phần “Công cụ tính thời gian tồn kho là gì?” giải thích dễ hiểu, đọc xong mới phân biệt được thời gian tồn kho với vòng quay tồn kho.

  • Đặng Hoài Quang

    Ổn áp nha, nhưng mong phần giải thích nhắc thêm ảnh hưởng của mùa vụ. Shop mình bán hàng Tết nên số ngày tồn kho mỗi tháng chênh nhau nhiều lắm.

  • Hoàng Thị Thành

    Xài trên điện thoại cũng khá tiện nha, đang ở kho vẫn kiểm tra nhanh được :))

  • Hoàng Ngọc Khánh

    Nên ghi rõ đơn vị ở ô nhập liệu và phần kết quả nhé, mình nhìn lần đầu còn hơi phân vân.

  • Đặng Xuân Khánh

    Ước gì có ví dụ với số liệu mẫu ngay bên dưới, kiểu tồn kho bình quân 200 triệu thì tính ra sao.

  • Lê Tiến Thắng

    Mình vào tìm Inventory Period Calculator rồi thấy cả công cụ tính doanh thu trên mỗi nhân viên. Khá tiện cho việc xem vài chỉ số kinh doanh cùng lúc.

  • Lê Thanh Tài

    Mình thích mục Các Công Cụ Tương Tự, đang tính thời gian tồn kho mà tìm được luôn công cụ tính điểm đặt hàng lại.

  • Bùi Quốc Bình

    tool de dung ghe, minh dang lam bao cao kho nen thay kha huu ich

  • Hồ Tuấn Thắng

    Phần KẾT QUẢ nên có thêm giải thích số ngày tồn kho cao hay thấp nói lên điều gì thì người mới dễ hiểu hơn.

  • Trần Thu Thành

    Cho mình hỏi hàng tồn kho bình quân là lấy tồn đầu kỳ cộng cuối kỳ rồi chia 2 đúng không ạ?

  • Lê Ngọc Hà

    Mình vừa thử công cụ tính thời gian tồn kho, nhập số liệu xong xem kết quả khá tiện. Đỡ phải mở Excel tính riêng.

Bình luận vui vẻ - Yêu cầu nâng cấp