Về khung pháp lý: Pháp luật không ban hành mẫu hợp đồng cộng tác viên bắt buộc. Khi cộng tác viên làm việc độc lập, không chịu nội quy và sự điều hành như nhân viên, hợp đồng cộng tác viên được xác định là hợp đồng dịch vụ theo Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015: bên cung ứng dịch vụ (cộng tác viên) thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ. Các quy định liên quan: Điều 514 (đối tượng của hợp đồng dịch vụ), Điều 515–518 (quyền và nghĩa vụ của hai bên), Điều 519 (trả tiền dịch vụ), Điều 520 (đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ).
Ranh giới với hợp đồng lao động (điểm hay bị nhầm nhất): khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019 quy định hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động. Tòa án và cơ quan thanh tra nhìn vào bản chất quan hệ thực tế, không nhìn vào tên gọi trên giấy. Vì vậy cả 3 mẫu trong công cụ đều có điều khoản xác nhận tính độc lập của cộng tác viên, và người dùng cần rà soát: nếu thực tế cộng tác viên phải chấm công, ngồi tại văn phòng theo giờ hành chính, chịu kỷ luật lao động và nhận “lương” cố định như nhân viên thì phải ký hợp đồng lao động, kèm đóng BHXH bắt buộc và khấu trừ thuế theo biểu lũy tiến.
Về thuế thu nhập cá nhân: Thù lao trả cho cộng tác viên cá nhân (không ký hợp đồng lao động) là thu nhập từ tiền lương, tiền công dạng vãng lai. Theo quy định hiện hành tại Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP (ban hành theo Luật Thuế thu nhập cá nhân 109/2025/QH15, áp dụng từ ngày 01/7/2026): bên trả thu nhập cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng phải khấu trừ 10% trước khi trả nếu mỗi lần chi trả từ 5.000.000 đồng trở lên; chi trả dưới 5.000.000 đồng/lần thì chỉ khấu trừ 10% khi cá nhân có yêu cầu. Cá nhân ước tính tổng thu nhập chịu thuế sau giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế có thể làm bản cam kết gửi bên trả thu nhập để tạm thời chưa khấu trừ. Trước ngày 01/7/2026, ngưỡng khấu trừ là 2.000.000 đồng/lần theo Thông tư 111/2013/TT-BTC — ngưỡng này đã hết hiệu lực, đừng dùng lại số cũ.
Về bảo hiểm xã hội: Cộng tác viên theo hợp đồng dịch vụ thuần túy không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc tại bên sử dụng dịch vụ. Ngược lại, nếu quan hệ bị xác định là lao động như phân tích ở trên thì doanh nghiệp phải đóng BHXH bắt buộc cho người lao động theo Luật Bảo hiểm xã hội, kể cả khi giấy tờ đang ghi là “cộng tác viên”.
Về các mẫu trong công cụ: Mẫu 1 (CTV chung) bám cấu trúc hợp đồng cộng tác viên thông dụng tại các kho mẫu Hoatieu/VnDoc, 1C Việt Nam và ACC Group: thông tin hai bên, nội dung công việc, thời hạn, thù lao và thanh toán, quyền/nghĩa vụ, chấm dứt, tranh chấp, hiệu lực. Mẫu 2 bổ sung cho CTV kinh doanh/bán hàng: khu vực và khách hàng phụ trách, chỉ tiêu tham chiếu, hoa hồng tính trên doanh thu thực thu. Mẫu 3 bổ sung cho CTV online/freelancer: làm việc từ xa, bàn giao sản phẩm theo đợt, số vòng chỉnh sửa, quyền sở hữu trí tuệ thuộc về bên A sau khi thanh toán đầy đủ. Mọi câu chữ được viết lại thống nhất, không sao chép nguyên văn một mẫu cụ thể.
Lưu ý khi dùng: ghi rõ cách tính thù lao và mốc nghiệm thu để tránh tranh cãi khi thanh toán; doanh thu tính hoa hồng nên chốt là doanh thu thực thu (đã thu tiền, sau khi trừ hoàn/hủy) và hai bên đối chiếu theo kỳ. Toàn bộ thông tin bạn nhập và ảnh chữ ký chỉ xử lý ngay trên trình duyệt của bạn, không gửi lên máy chủ của Công Cụ Việt.