Máy tính tính giá trị thời gian của tiền (TVM)

Trang chủ / Công cụ / Tiền tệ - Đầu tư / Máy tính tính giá trị thời gian của tiền (TVM)
Sử dụng miễn phí Xử lý trực tiếp trên trình duyệt Kết quả tức thì
🤖 Chưa rõ cách dùng? Hỏi AI hướng dẫn
Cần tìm:
Giá trị tương lai (FV) sẽ là:
142.000.000 đ

Tổng tiền đã góp
Tiền lãi / tăng thêm
Lãi suất hiệu dụng / năm (EAR)
Tổng số kỳ
Nhập 10 nghĩa là 10%/năm, chưa phải lãi suất hiệu dụng.
Thời gian luôn nhập bằng năm, kể cả khi chọn kỳ tháng.
Tần suất ghép lãi / nộp tiền
Thời điểm nộp tiền
Đầu kỳ: mỗi khoản nộp có thêm một kỳ sinh lãi so với cuối kỳ.
Thừa số và công thức

Gọi i là lãi suất mỗi kỳ (lãi suất năm chia số kỳ mỗi năm), N là tổng số kỳ, A = (1 + i)N, B = (A − 1) / i khi i khác 0 và B = N khi i bằng 0. Công thức: FV = PV × A + PMT × B, nhân thêm (1 + i) vào phần PMT khi nộp đầu kỳ. Tìm PV: (FV − PMT × B) / A; tìm PMT: (FV − PV × A) / B; kết quả âm được chặn về 0 và ghi rõ trong câu kết luận. Lãi suất tìm bằng phép chia đôi; thời gian tìm bằng logarit.

Ô tiền để trống được tính là 0. Công cụ chỉ nhận số nguyên VNĐ và lãi suất không âm; đây là công cụ phân tích theo giả định lãi suất cố định, chưa tính thuế, phí hay lạm phát.

Hướng dẫn nhanh ⏱ Thời gian: 1 phút

Hướng dẫn sử dụng Máy tính giá trị thời gian của tiền (TVM)

Thực hiện theo 4 bước dưới đây để tính giá trị tương lai, giá trị hiện tại, khoản nộp đều, lãi suất hoặc thời gian đầu tư.

Bước1

Chọn đại lượng cần tính

Tại “Cần tìm:”, chọn “Giá trị tương lai (FV)”, “Giá trị hiện tại (PV)”, “Khoản nộp đều (PMT)”, “Lãi suất” hoặc “Thời gian”.

💡 Mẹo: Ô của đại lượng cần tìm tự khóa và làm trống; bạn chỉ nhập các ô còn lại.
Bước2

Nhập các khoản tiền đã biết

Điền các ô đang mở: “Giá trị hiện tại - PV (VNĐ)”, “Khoản nộp đều - PMT mỗi kỳ (VNĐ)” và “Giá trị tương lai - FV (VNĐ)” theo thông tin đã biết.

💡 Mẹo: Các ô tiền tự phân cách hàng nghìn và hiển thị bằng chữ; ô tiền để trống được tính là 0, dùng các nút chip để nhập nhanh.
Bước3

Điền lãi suất, thời gian và chọn tần suất

Nhập “Lãi suất (% / Năm)” và “Thời gian (Năm)” nếu ô đang mở. Tại “Tần suất ghép lãi / nộp tiền”, chọn “Hàng năm”, “Bán niên”, “Hàng quý” hoặc “Hàng tháng”; tại “Thời điểm nộp tiền”, chọn “Cuối kỳ” hoặc “Đầu kỳ”.

💡 Mẹo: Thời gian luôn nhập bằng năm, kể cả khi chọn kỳ tháng; nộp đầu kỳ cho mỗi khoản nộp thêm một kỳ sinh lãi so với cuối kỳ.
Bước4

Đọc kết quả ngay khi nhập

Kết quả hiện ngay ở khung trên cùng cùng câu kết luận, “Tổng tiền đã góp”, “Tiền lãi / tăng thêm”, “Lãi suất hiệu dụng / năm (EAR)” và “Tổng số kỳ”; mở “Thừa số và công thức” để xem FVIF, PVIF và FVIFA. Nếu xuất hiện thông báo lỗi màu đỏ, kết quả cũ sẽ ẩn đi cho đến khi bạn sửa đúng dữ liệu.

💡 Mẹo: Nhấn “Về ví dụ mẫu” để trở lại ví dụ 100.000.000 VNĐ vốn, 10.000.000 VNĐ mỗi năm, lãi 10%/năm trong 2 năm.
Đồng tiền tăng trưởng theo thời gian
Một đồng tiền hôm nay và cùng mệnh giá trong tương lai không có giá trị kinh tế như nhau — tiền sinh lãi trong thời gian nắm giữ.

Nội Dung

Máy tính giá trị thời gian của tiền (TVM) là gì?

Giá trị thời gian của tiền, hay TVM, là nguyên lý cho rằng một khoản tiền ở hiện tại và khoản tiền cùng mệnh giá ở tương lai không nhất thiết có giá trị kinh tế như nhau. Tiền có thể sinh lãi trong thời gian nắm giữ; ngược lại, việc chờ nhận tiền có chi phí cơ hội. Vì vậy, khi so sánh các phương án tài chính, cần quy tiền về cùng một thời điểm theo giả định lãi suất phù hợp.

Máy tính TVM này hỗ trợ tìm một trong năm đại lượng: vốn hiện tại, giá trị tương lai, khoản nộp đều mỗi kỳ, lãi suất năm hoặc thời gian tích lũy. Những đại lượng còn lại cùng tần suất ghép lãi và nộp tiền tạo thành dữ liệu cho phép tính. Kết quả giúp trả lời các câu hỏi như cần góp bao nhiêu để đạt mục tiêu hoặc vốn hiện có sẽ tích lũy thành bao nhiêu.

Nguyên lý TVM áp dụng cho nhiều dạng dòng tiền, nhưng mô hình được mã nguồn xác nhận có phạm vi cụ thể: lãi suất cố định, khoản nộp bằng nhau vào cuối kỳ hoặc đầu kỳ tùy lựa chọn và một tần suất chung cho ghép lãi lẫn thanh toán. Đây là công cụ phân tích kế hoạch theo giả định, không phải dự báo thị trường, xác nhận điều khoản sản phẩm hay cam kết lợi nhuận.

Các khoản tiền dọc trục thời gian
PV là vốn lúc bắt đầu, FV là quỹ cuối thời hạn, PMT là khoản nộp đều cuối mỗi kỳ.

Các thuật ngữ cần hiểu khi tính TVM

Giá trị hiện tại (PV)

PV là số tiền tại thời điểm bắt đầu kế hoạch. Trong bài toán tìm vốn, đó là khoản cần chuẩn bị ngay bây giờ để kết hợp với tiền nộp định kỳ và đạt mục tiêu tương lai. PV được tính sinh lãi trong toàn bộ thời hạn. Không nên nhầm PV với tổng tiền đã góp: vốn ban đầu thuộc PV, còn những lần góp về sau thuộc khoản nộp đều. Tách hai phần này giúp xác định đúng nguồn hình thành quỹ.

Giá trị tương lai (FV)

FV là số tiền ở cuối thời hạn theo các giả định đã nhập. Nó gồm vốn ban đầu sau tăng trưởng và giá trị tích lũy của những khoản nộp định kỳ. Khi tìm FV, người dùng đang hỏi về quy mô quỹ, không chỉ hỏi tiền lãi. Muốn hiểu phần tăng thêm, cần đối chiếu FV với tổng vốn thực tế đã góp. FV cũng không tự thể hiện sức mua sau lạm phát hoặc số tiền thực nhận sau thuế, phí.

Khoản nộp đều (PMT)

PMT là khoản tiền bằng nhau được nộp vào cuối mỗi kỳ. Đơn vị của nó phụ thuộc tần suất đã chọn: kỳ tháng là VNĐ mỗi tháng, kỳ quý là VNĐ mỗi quý. Vì thế, cùng một PMT nhưng khác tần suất sẽ tạo ngân sách góp tiền cả năm khác nhau. “Cuối kỳ” cũng là giả định quan trọng: tiền vừa nộp ở cuối kỳ cuối cùng chưa có thêm thời gian sinh lãi trong thời hạn đang tính.

Lãi suất danh nghĩa năm và lãi suất hiệu dụng năm

Lãi suất danh nghĩa năm là mức dùng để phân bổ cho các kỳ ghép lãi. Công cụ chia mức phần trăm năm cho số kỳ mỗi năm để tính lãi suất mỗi kỳ. Lãi suất hiệu dụng năm là khái niệm nền phản ánh cả tác động lãi trên lãi trong năm. Nếu gọi lãi suất năm dạng thập phân là r và số kỳ là m, mức hiệu dụng bằng (1 + r/m)m − 1. Công cụ hiển thị mức hiệu dụng này riêng ở hàng thống kê, bên cạnh tổng tiền đã góp và tiền lãi hoặc tăng thêm.

Kỳ ghép lãi và tổng số kỳ

Kỳ là khoảng thời gian áp dụng lãi suất và khoản nộp. Công cụ có kỳ năm, bán niên, quý và tháng, tương ứng 1, 2, 4 và 12 kỳ mỗi năm. Tổng số kỳ bằng số năm nhân số kỳ mỗi năm. Điểm dễ nhầm là thời gian vẫn nhập bằng năm dù chọn kỳ tháng. Ngoài ra, thay đổi tần suất vừa thay đổi cách ghép lãi vừa thay đổi số lần nộp, không chỉ tác động riêng đến tiền lãi.

Bảng điều khiển máy tính TVM
Ô của đại lượng cần tìm bị vô hiệu hóa; ô tiền để trống được hiểu là 0; thời gian luôn nhập bằng năm.

Đầu vào cần chuẩn bị và cách đọc kết quả TVM

Đơn vị và dữ liệu cho từng đại lượng

Trước khi tính, cần xác định câu hỏi muốn giải quyết và chuẩn bị các đại lượng đã biết. Ô của đại lượng cần tìm bị vô hiệu hóa và được làm trống, tránh sử dụng nó như một dữ liệu đầu vào.

Đại lượng Đơn vị Ý nghĩa đầu vào hoặc kết quả
PV VNĐ Vốn có sẵn hoặc vốn cần chuẩn bị lúc bắt đầu.
FV VNĐ Mục tiêu cuối thời hạn hoặc giá trị tích lũy được tính.
PMT VNĐ mỗi kỳ Khả năng góp đều hoặc khoản cần nộp theo kỳ đã chọn.
Lãi suất % mỗi năm Mức giả định hoặc mức năm cần thiết theo mô hình.
Thời gian Năm Thời hạn dự kiến hoặc thời gian được suy ra.

Các ô tiền còn lại để trống được hiểu là 0. Ngược lại, lãi suất và thời gian cần có giá trị số nếu không phải đại lượng đang tìm. Các ô tiền chỉ giữ chữ số khi nhập; dấu âm hoặc dấu thập phân không được giữ theo ý nghĩa thông thường. Vì vậy, không dùng chúng để nhập khoản rút tiền hay số tiền lẻ, bởi dữ liệu có thể biến thành một số khác với dự định.

Kết quả chính và thừa số

Kết quả tiền được làm tròn đến đồng và phân nhóm theo định dạng tiếng Việt. Lãi suất và số năm hiển thị hai chữ số thập phân; các thừa số hiển thị bốn chữ số. Phần tháng tham khảo được tính từ số năm chưa làm tròn, nhân 12 rồi làm tròn lên, nên không nhất thiết khớp với phép nhân từ con số năm đang nhìn thấy.

Kết quả hiện ngay khi nhập, không cần bấm nút tính: khung trên cùng nêu đại lượng cần tìm, kèm tổng tiền đã góp, tiền lãi hoặc tăng thêm, lãi suất hiệu dụng năm và tổng số kỳ. Nút “Về ví dụ mẫu” đưa công cụ về ví dụ vốn 100.000.000 VNĐ, góp 10.000.000 VNĐ mỗi năm, lãi 10%/năm trong 2 năm. Nút “Sao chép kết quả” và “Tải kết quả (.txt)” lưu bản tóm tắt kèm các giả định, tiện dùng khi so sánh nhiều kịch bản.

Tiền tích lũy thành bậc thang tăng dần
FV = PV × A + PMT × B, với A = (1 + i)^N, B = (A − 1) / i; i = r / m, N = t × m.

Công thức và quy tắc tính giá trị thời gian của tiền

Tích lũy vốn và khoản nộp cuối kỳ

Để diễn giải công thức, gọi r là lãi suất năm dạng thập phân, m là số kỳ mỗi năm và t là số năm. Chẳng hạn, 10% được viết thành 0,10. Khi đó, lãi suất mỗi kỳ là i = r/m và tổng số kỳ là N = t × m.

Đặt A = (1 + i)N. Với lãi suất khác 0, đặt B = (A − 1)/i; khi lãi suất bằng 0, B = N. Công thức tích lũy là:

FV = PV × A + PMT × B

Phần PV × A thể hiện vốn ban đầu sinh lãi suốt thời hạn. Phần PMT × B cộng giá trị tích lũy của từng lần nộp theo thời điểm đã chọn: khoản nộp sớm có nhiều thời gian sinh lãi hơn khoản nộp muộn. Khi chọn nộp đầu kỳ, công cụ nhân thêm (1 + i) vào phần PMT, vì mỗi khoản nộp có thêm một kỳ sinh lãi so với nộp cuối kỳ.

Tìm ngược vốn, khoản nộp, lãi suất và thời gian

Từ công thức trên, vốn cần có là PV = (FV − PMT × B)/A, còn khoản nộp cần thiết là PMT = (FV − PV × A)/B. Nếu một trong hai kết quả âm, công cụ thay bằng 0. Khi không có lãi, phép tính trở thành cộng vốn và các khoản góp, không dùng phép chia cho lãi suất.

Để tìm lãi suất, công cụ thu hẹp khoảng bằng cách chia đôi trong 200 lượt, so sánh giá trị tích lũy với mục tiêu. Khoảng tìm là từ 0 đến 5 theo lãi suất dạng thập phân mỗi kỳ, tức 0% đến 500% mỗi kỳ. Nghiệm mỗi kỳ được nhân với số kỳ mỗi năm để trả về phần trăm năm. Cách này không tìm lãi suất âm; nếu ngay cả lãi suất 0% đã vượt mục tiêu hoặc mục tiêu cần lãi suất trên 500% mỗi kỳ, công cụ báo lỗi rõ thay vì trả về một con số biên.

Với lãi suất mỗi kỳ khác 0, thời gian được tính theo:

t = ln((FV × i + PMT)/(PV × i + PMT)) / (m × ln(1 + i))

Ở đây, ln là logarit tự nhiên. Công cụ báo lỗi nếu tử hoặc mẫu của tỷ số bên trong không dương. Khi không có lãi và PMT dương, t = (FV − PV)/(PMT × m). Nếu lãi suất bằng 0 và không có khoản nộp mà mục tiêu vượt vốn ban đầu, công cụ báo lỗi vì mục tiêu không bao giờ đạt được; số 0 năm chỉ xuất hiện khi mục tiêu đã đạt ngay từ đầu.

Ý nghĩa của các thừa số

FVIF chính là A, cho biết một đồng vốn ban đầu tích lũy thành bao nhiêu. PVIF là 1/A, dùng quy giá trị tương lai về hiện tại. FVIFA là B, biểu diễn tích lũy của chuỗi khoản nộp bằng nhau cuối kỳ.

FVIF và PVIF xuất hiện cùng mọi kết quả. FVIFA được bổ sung khi có khoản nộp; khi lãi suất bằng 0, FVIFA bằng tổng số kỳ, và khi chọn nộp đầu kỳ, thừa số hiển thị đã nhân thêm hệ số đầu kỳ. Các thừa số làm tròn giúp đọc kết quả; phép tính chính không lấy những con số đã làm tròn đó để tính tiếp.

Ví dụ tích lũy tiền theo thời gian
Vốn 100 triệu, 10%/năm, 2 năm: không góp thêm FV 121 triệu; góp 10 triệu cuối mỗi năm FV 142 triệu.

Ví dụ tính TVM cho các tình huống tích lũy

Có và không có khoản nộp thêm

Các ví dụ sau dùng dữ liệu giả định và được tính theo công thức của công cụ. Giả sử có vốn 100.000.000 VNĐ, lãi suất 10%/năm, thời hạn 2 năm và ghép lãi hàng năm. Thừa số tích lũy là 1,12 = 1,21.

Nếu không góp thêm, FV = 100.000.000 × 1,21 = 121.000.000 VNĐ. Phần tăng so với vốn ban đầu là 21.000.000 VNĐ theo giả định lãi suất. FVIF hiển thị 1.2100, PVIF hiển thị 0.8264; không có FVIFA vì PMT bằng 0.

Nếu góp thêm 10.000.000 VNĐ cuối mỗi năm, thừa số niên kim là (1,21 − 1)/0,10 = 2,1. Hai khoản góp tích lũy thành 21.000.000 VNĐ: khoản cuối năm thứ nhất sinh lãi thêm một năm, khoản cuối năm thứ hai không sinh thêm lãi trong thời hạn. FV là 121.000.000 + 21.000.000 = 142.000.000 VNĐ.

Tổng tiền thực góp ở kịch bản thứ hai là 100.000.000 + 2 × 10.000.000 = 120.000.000 VNĐ. Chênh lệch mô hình là 22.000.000 VNĐ, không phải toàn bộ 142.000.000 VNĐ. Thuế, phí và biến động thực tế chưa được tính vào đây.

Tìm khoản nộp tháng khi lãi suất bằng 0

Giả sử vốn ban đầu là 100.000.000 VNĐ, mục tiêu 220.000.000 VNĐ sau 2 năm, chọn kỳ tháng và lãi suất 0%/năm. Tổng số kỳ là 2 × 12 = 24 tháng. Số tiền còn thiếu là 120.000.000 VNĐ, nên PMT = 120.000.000/24 = 5.000.000 VNĐ mỗi tháng.

Đây là khoản góp mỗi kỳ tháng, không phải tổng khoản góp trong năm. Không có tiền lãi hỗ trợ mục tiêu, nên toàn bộ chênh lệch giữa vốn ban đầu và mục tiêu phải đến từ các lần nộp. Ví dụ này cũng cho thấy nhập thời gian 2 năm không có nghĩa chỉ có hai lần góp.

Đọc đúng kết quả vốn ban đầu bằng 0

Giả sử mục tiêu là 20.000.000 VNĐ, góp 10.000.000 VNĐ cuối mỗi năm trong 3 năm, với lãi suất 0%. Tổng các khoản góp đã là 30.000.000 VNĐ. Công thức vốn hiện tại cho kết quả −10.000.000 VNĐ, nhưng công cụ chặn giá trị âm nên hiển thị PV bằng 0 VNĐ.

Cách hiểu đúng là không cần vốn bổ sung ban đầu theo tiêu chí đạt ít nhất mục tiêu. Nếu vẫn góp đủ như giả định, quỹ cuối thời hạn sẽ là 30.000.000 VNĐ, vượt mục tiêu. Số 0 không phải nghiệm làm dòng tiền cân bằng chính xác với 20.000.000 VNĐ.

Kế hoạch tài chính với mục tiêu tiền
Tìm FV để hình dung quy mô quỹ, tìm PMT để đối chiếu khoản góp với ngân sách, tìm PV để biết vốn cần chuẩn bị.

Ứng dụng TVM để xây dựng và rà soát mục tiêu tài chính

Từ mục tiêu tiền đến khoản nộp phù hợp

Mỗi chế độ phù hợp với một câu hỏi khác nhau. Khi đã biết vốn, khả năng góp và thời hạn, tìm FV giúp hình dung quy mô quỹ tương lai. Khi đã có mục tiêu, tìm PMT giúp đối chiếu khoản góp cần thiết với ngân sách thực tế mỗi kỳ. Đối chiếu nên bao gồm cả nhu cầu chi tiêu thiết yếu, không chỉ nhìn mức góp mà công thức đưa ra.

Nếu khoản góp định kỳ đã được cố định, tìm PV giúp xác định phần vốn cần chuẩn bị trước. Đây là cách phân chia gánh nặng giữa tiền có sẵn và tiền tích lũy về sau. Với kế hoạch theo tháng, cần đánh giá khả năng duy trì khoản góp từng tháng; một ngân sách năm đủ lớn chưa chắc bảo đảm dòng tiền tháng đều đặn.

Kiểm tra tính khả thi bằng nhiều giả định

Tìm thời gian giúp xem mục tiêu đòi hỏi chờ bao lâu dưới giả định hiện tại. Tìm lãi suất cho biết mức sinh lời mà mô hình yêu cầu. Nếu mức này quá cao so với khả năng chấp nhận rủi ro, nên xem lại mục tiêu, thời hạn hoặc khoản góp thay vì coi con số là một cơ hội đầu tư sẵn có.

Có thể so sánh vài mức lãi suất để nhận biết mức độ phụ thuộc của kế hoạch vào tăng trưởng. Khi so sánh, giữ nhất quán thời điểm nộp và ngân sách năm; đổi kỳ nhưng giữ nguyên PMT có thể làm thay đổi lượng tiền góp. Ghi lại đầy đủ vốn, mục tiêu, khoản góp, lãi suất, thời hạn và tần suất bằng nút sao chép hoặc tải kết quả, vì công cụ không lưu lại các kịch bản đã tính.

Phân biệt nộp cuối kỳ, nộp đầu kỳ và dòng tiền tăng trưởng

Thời điểm nộp làm thay đổi thời gian sinh lãi

Trong kiến thức tài chính chung, một khoản nộp đầu kỳ có thêm một kỳ sinh lãi so với khoản tương ứng nộp cuối kỳ. Với lãi suất dương và các điều kiện khác giống nhau, khác biệt thời điểm này làm thay đổi giá trị tích lũy. Công cụ TVM mặc định dùng khoản nộp cuối kỳ, nhưng có lựa chọn chuyển sang đầu kỳ ở mục “Thời điểm nộp tiền”; khi chọn đầu kỳ, mỗi khoản nộp được nhân thêm một kỳ sinh lãi.

Nếu bài toán là nhận hoặc nộp các khoản bằng nhau ngay đầu kỳ rồi quy về hiện tại, chủ đề phù hợp là giá trị hiện tại của niên kim đầu kỳ. Quy một FV mục tiêu về vốn hiện tại sau khi xét khoản góp khác với định giá từng khoản trong một chuỗi nhận tiền. Hai bài toán có liên hệ về chiết khấu, nhưng không đồng nhất về dòng tiền.

Khoản nộp cố định khác khoản nộp tăng dần

PMT ở đây không đổi trong toàn bộ thời hạn. Nếu dự định tăng mức góp theo thu nhập hoặc giảm mức góp ở một giai đoạn, dòng tiền thực tế không còn là chuỗi bằng nhau. Dùng một khoản góp trung bình có thể phục vụ ước lượng sơ bộ, nhưng không thể coi là kết quả chính xác cho chuỗi đó vì thời điểm của từng khoản vẫn ảnh hưởng đến lãi.

Một chuỗi khoản tiền tăng theo tỷ lệ thuộc chủ đề giá trị hiện tại của niên kim tăng trưởng. Những liên kết này chỉ định hướng chủ đề; mã của Công cụ liên quan chưa được công bố để xác minh chức năng hay khả năng phối hợp với máy tính TVM.

Giới hạn của mô hình TVM
Mô hình không tính thuế, phí, lạm phát hay biến động lãi suất; lãi suất cố định, khoản nộp bằng nhau cuối kỳ.

Giới hạn của kết quả và những trường hợp cần thận trọng

Các giả định chưa phản ánh thực tế

Mô hình không tính riêng thuế, phí, lạm phát, biến động lãi suất hay rủi ro đầu tư. Nó cũng không xử lý dòng tiền không đều, khoản góp tăng dần hoặc tần suất ghép lãi tách biệt với tần suất nộp. Vì vậy, số tiền tương lai theo mô hình có thể khác số thực nhận và không trực tiếp nói lên sức mua của quỹ.

Phạm vi Công cụ không đủ để xác minh việc lưu trữ, theo dõi hoặc truyền dữ liệu của toàn website. Không thể từ đó tuyên bố dữ liệu luôn chỉ nằm trên thiết bị. Lịch sử hiển thị cũng không phải hồ sơ tài chính đầy đủ hay bằng chứng về điều khoản của một giao dịch.

Ngoại lệ cần kiểm tra trước khi dùng kết quả

Nhánh tìm lãi suất chỉ xét khoảng không âm và không báo riêng trường hợp mục tiêu không có nghiệm trong khoảng. Một kết quả sát biên chưa chứng minh kế hoạch đạt đúng mục tiêu. Khi tìm thời gian với cả lãi suất và khoản góp bằng 0, số 0 năm cũng không phân biệt mục tiêu đã đạt với mục tiêu không thể đạt.

Thời gian bằng 0 có thể khiến phép tìm PMT gặp phép chia không phù hợp. Số kỳ lẻ vẫn được đưa vào công thức nhưng không tạo một lịch góp tiền thực tế. Thông số âm hoặc số tiền quá lớn có thể cho kết quả khó diễn giải; việc kiểm tra dữ liệu trong mã không bao phủ mọi trường hợp. Trạng thái thành công không phải chứng nhận tính hợp lý tài chính. Trước khi sử dụng, cần kiểm tra đơn vị, giả định và xem kết quả có phù hợp với kế hoạch thực tế hay không.

Tài liệu tham khảo

Công cụ liên quan

Các công cụ sau đây dùng chung khung lãi suất và dòng tiền đều, phù hợp để đối chiếu với kết quả TVM: Lãi suất kép, Khoản vay và trả góp (EMI), Lợi tức đầu tư (ROI), Lập ngân sách chi tiêu và Tính lãi gửi tiết kiệm.

Câu hỏi thường gặp

Nếu góp tiền hàng tháng thì thời gian vẫn nhập bằng năm phải không?

Đúng, thời gian vẫn nhập bằng năm dù chọn góp và ghép lãi hàng tháng. Công cụ lấy số năm nhân 12 để có tổng số kỳ trong trường hợp này. Chẳng hạn, thời hạn 2 năm tương ứng 24 kỳ tháng. Nếu cần biểu diễn một khoảng thời gian bằng tháng, phải quy về năm trước khi nhập. Công thức không bắt buộc tổng số kỳ là số nguyên, nên kết quả với kỳ lẻ cần được đối chiếu với lịch góp thực tế.

PMT là tiền nộp mỗi tháng hay tổng tiền nộp trong một năm?

PMT là tiền nộp mỗi kỳ đã chọn, không mặc định là mỗi tháng và cũng không mặc định là tổng tiền một năm. Nếu chọn hàng tháng, đó là khoản mỗi tháng; nếu chọn hàng năm, đó là khoản mỗi năm. Vì vậy, khi đổi tần suất để so sánh, cần quy đổi khoản góp theo ngân sách mong muốn. Giữ nguyên số PMT rồi chuyển từ năm sang tháng làm số lần góp tăng lên, khiến phép so sánh không còn chỉ phản ánh khác biệt ghép lãi.

Để trống ô tiền có bị báo thiếu dữ liệu không?

Không tự động: trong công cụ, ô tiền để trống được đọc thành 0. Điều này hữu ích khi không có vốn ban đầu hoặc không góp thêm, nhưng cũng dễ khiến một khoản quên nhập bị coi là không tồn tại. Lãi suất và thời gian có cách kiểm tra khác, cần giá trị số khi không phải đại lượng đang tìm. Vì thế, trước khi dùng kết quả, nên phân biệt rõ ô cố ý để 0 với ô bị bỏ sót.

Tôi nộp tiền đầu tháng thì dùng kết quả này có phù hợp không?

Phù hợp, nếu chọn “Đầu kỳ” ở mục “Thời điểm nộp tiền”. Với lựa chọn này, mỗi khoản nộp được nhân thêm một kỳ sinh lãi so với nộp cuối kỳ, đúng với tiền nộp đầu tháng. Khi lãi suất bằng 0, khác biệt thời điểm không tạo thêm lãi trong mô hình, dù lịch góp vẫn khác nhau.

Vì sao vốn ban đầu hoặc khoản nộp cần thiết lại bằng 0?

Có thể vì các nguồn tiền còn lại đã đủ đạt hoặc vượt mục tiêu, hoặc vì kết quả đại số âm đã được công cụ thay bằng 0. Với PV, khoản góp định kỳ có thể tự tích lũy vượt FV mong muốn. Với PMT, vốn ban đầu sau tăng trưởng có thể đã vượt mục tiêu. Do đó, số 0 thường có nghĩa không cần bổ sung khoản tương ứng theo giả định, không có nghĩa giá trị cuối thời hạn sẽ đúng bằng mục tiêu đã nhập.

Công cụ có lưu lịch sử tính toán không?

Không. Công cụ tính ngay khi nhập và không lưu lịch sử các lần tính trước. Khi dữ liệu không hợp lệ, công cụ hiện thông báo lỗi màu đỏ và ẩn kết quả cũ cho đến khi dữ liệu được sửa đúng. Nút “Về ví dụ mẫu” đưa mọi lựa chọn về ví dụ mẫu, còn nút sao chép và tải kết quả giúp lưu bản tóm tắt kèm giả định của kịch bản đang xem.

Lãi suất cần thiết do công cụ tính có bảo đảm tôi đạt mục tiêu không?

Không. Đó là mức lãi suất mà phép tìm nghiệm yêu cầu theo vốn, khoản góp, thời hạn và tần suất đã giả định, không phải mức sinh lời được thị trường bảo đảm. Phép tìm còn giới hạn ở khoảng lãi suất không âm và báo lỗi rõ khi mục tiêu không có lãi suất không âm phù hợp. Trong thực tế, thuế, phí, biến động lợi suất và việc góp không đúng kế hoạch đều có thể làm kết quả khác đi. Nên dùng con số để đánh giá yêu cầu của mục tiêu, không coi là lời hứa lợi nhuận.

Bình luận vui vẻ - Yêu cầu nâng cấp

Cáo trợ lý