Tính mái lợp tôn, ngói: diện tích mái dốc & chi phí

Trang chủ / Công cụ / Nhà cửa & Xây dựng / Tính mái lợp tôn, ngói: diện tích mái dốc & chi phí
★ 4.8/5 | 156 đánh giá
▼
Đánh giá công cụ:
★ ★ ★ ★ ★
Tính mái lợp tôn, ngói: diện tích mái dốc & chi phí

Nhập kích thước nhà, kiểu mái và độ dốc để tính diện tích mái thực cần lợp, chiều cao nóc và tổng chi phí vật liệu, khung kèo, nhân công cho mái tôn hoặc mái ngói.

🏠 Kích thước & kiểu mái

Ngói thường dốc 30–40%, tôn 15–25% là thoát nước tốt.
Phần mái chìa ra ngoài tường để che mưa nắng, thường 0,3–0,6 m.
Đã gồm vật liệu lợp + khung kèo + nhân công lắp đặt.
🧾 Tổng chi phí làm mái dự kiến —

Diện tích mái thực luôn lớn hơn diện tích hình chiếu vì phải nhân hệ số dốc — đây là điểm nhiều gia chủ bất ngờ khi nhận báo giá (mái dốc 30% thì diện tích tăng ~4,4%, dốc 40% tăng ~7,7%... và với mái 2 dốc còn tính cả hai phía). Độ cao nóc tính từ chân mái (đỉnh tường) để bạn hình dung tỉ lệ nhà. Mái ngói nặng cần kết cấu chịu lực tốt hơn mái tôn — nếu thay tôn bằng ngói trên nhà cũ, nên cho kỹ sư kiểm tra lại khung kèo và cột.

Hướng dẫn nhanh ⏱ Thời gian: 30 giây

Hướng dẫn sử dụng Công cụ tính mái lợp tôn, ngói

Thực hiện theo 3 bước đơn giản dưới đây để tính diện tích mái thực theo độ dốc và dự toán chi phí lợp mái.

Bước1

Nhập kích thước nhà và kiểu mái

Đo chiều dài và chiều rộng nhà theo mép tường ngoài, chọn kiểu mái 2 dốc, 1 dốc hoặc mái bằng. Phần đua mái là khoảng mái chìa ra khỏi tường (thường 0,3–0,6 m) — đừng quên nó vì diện tích đua mái cũng tốn vật liệu như thường.

💡 Mẹo: Nếu nhà có nhiều khối mái khác nhau (mái chính + mái hiên + mái tum), tính riêng từng khối rồi cộng lại sẽ chính xác hơn ép vào một hình chữ nhật.
Bước2

Chọn độ dốc và vật liệu lợp

Độ dốc quyết định hệ số nhân diện tích: dốc càng lớn, diện tích mái thực càng nhiều. Mái ngói cần dốc 30–40% để không bị tạt mưa và tự làm sạch, mái tôn chỉ cần 15–25%. Chọn vật liệu để lấy đơn giá trọn gói tham khảo, hoặc tự nhập giá thầu bạn nhận được.

💡 Mẹo: Nhà hướng Tây hoặc tầng tum nóng nên cân nhắc tôn cách nhiệt 3 lớp hoặc ngói — chênh lệch giá ban đầu thường hoàn vốn sau vài năm tiền điện điều hòa.
Bước3

Đối chiếu diện tích mái thực với báo giá

Kết quả cho ra diện tích hình chiếu, diện tích mái thực sau khi nhân hệ số dốc, chiều dài phía mái và chiều cao nóc. Khi nhà thầu báo giá theo m², hãy hỏi rõ họ tính theo diện tích nào — chênh lệch giữa hai cách tính ở mái dốc 30% là khoảng 4–8% tổng tiền.

💡 Mẹo: Yêu cầu báo giá tách riêng phần phụ kiện (diềm, úp nóc, máng xối, keo silicone) — đây là phần hay bị gộp chung rồi tính chồng, trong khi thực tế chỉ khoảng 8–12% giá trị mái.
Công cụ tính diện tích mái dốc và chi phí lợp tôn, ngói ước tính diện tích mặt mái và ngân sách từ kích thước nhà, đua mái, kiểu mái, độ dốc, đơn giá và phụ kiện
Công cụ trả lời hai câu hỏi: mái có diện tích tính tiền khoảng bao nhiêu mét vuông và tổng tiền dự kiến theo đơn giá đã chọn.

Nội Dung

Công cụ tính diện tích mái dốc và chi phí lợp tôn, ngói là gì?

Công cụ tính diện tích mái dốc và chi phí lợp tôn, ngói là tiện ích ước tính diện tích mặt mái và ngân sách làm mái từ kích thước nhà, phần đua mái, kiểu mái, độ dốc, đơn giá và tỷ lệ phụ kiện. Công cụ giúp trả lời hai câu hỏi: mái có diện tích tính tiền khoảng bao nhiêu mét vuông, và tổng tiền dự kiến là bao nhiêu theo đơn giá được chọn.

Ba lựa chọn được hỗ trợ là mái hai dốc chữ A, mái một dốc và mái bằng bê tông theo tên gọi trên giao diện. Mô hình hình học phù hợp với mặt bằng chữ nhật, các mặt mái phẳng đều và phần đua mái bằng nhau ở bốn phía. Riêng lựa chọn mái bằng chỉ tính diện tích và nhân đơn giá, không phải dự toán kết cấu bê tông đầy đủ.

Nhóm kết quả hình học giúp bạn phân biệt diện tích nền nhà, diện tích bao mái nhìn từ trên xuống và diện tích bề mặt nghiêng. Với mái dốc, công cụ còn cho biết chiều dài theo mặt mái và chiều cao tính từ đỉnh tường theo giả định của mô hình. Nhóm kết quả chi phí tách tiền chính khỏi khoản phụ kiện để dễ đối chiếu ngân sách.

Đây là dự toán sơ bộ, không phải báo giá thi công, hồ sơ thiết kế hay bảng đặt vật liệu. Các con số hỗ trợ so sánh phương án và trao đổi với nhà thầu. Việc xác định cấu tạo, khả năng chịu lực, số tấm tôn hoặc số viên ngói vẫn cần thông tin kỹ thuật và khảo sát công trình thực tế.

Năm thuật ngữ cần hiểu trước khi tính mái

Diện tích hình chiếu

Diện tích hình chiếu là diện tích bao mái khi nhìn thẳng từ trên xuống, không đo theo mặt nghiêng. Trong công cụ, kích thước bao mái đã cộng phần đua mái vào cả chiều dài và chiều rộng. Đây là nền để tính diện tích bề mặt mái dốc. Điểm dễ nhầm là lấy diện tích sàn nhà thay thế: nếu mái chìa ra ngoài tường, diện tích hình chiếu bao mái đã lớn hơn diện tích nền ngay cả trước khi xét độ dốc.

Độ dốc phần trăm

Độ dốc phần trăm biểu thị tỷ lệ tăng cao so với khoảng chạy ngang, rồi nhân với 100. Chẳng hạn, dốc 30% nghĩa là tăng cao 0,3 m trên mỗi 1 m theo phương ngang. Thông số này ảnh hưởng đến diện tích bề mặt và chiều cao mái. Nó không phải góc đo bằng độ: nhập 30 vào ô phần trăm không có nghĩa là đang mô tả mái nghiêng 30°. Cần xác định đúng loại số đo trước khi tính.

Hệ số dốc

Hệ số dốc là tỷ số giữa chiều dài trên mặt nghiêng và chiều dài hình chiếu ngang tương ứng. Với mặt mái phẳng đều, hệ số được tính bằng √(1 + (độ dốc/100)²). Nhân diện tích hình chiếu với hệ số này sẽ ra diện tích mái dốc theo mô hình. Không nên nhầm hệ số dốc với hao hụt vật tư: nó chỉ phản ánh hình học, chưa bao gồm phần chồng mí, cắt bỏ hay vật liệu cần dự phòng khi thi công.

Đua mái

Đua mái là phần mái chìa ra ngoài tường để che chắn. Công cụ hiểu con số nhập vào là khoảng mở rộng theo phương ngang tại mỗi phía, đồng thời áp dụng một giá trị cho cả bốn phía. Vì vậy, đua mái ảnh hưởng đến cả hai kích thước bao mái và diện tích tính tiền. Nếu bạn đo trực tiếp dọc theo tấm lợp nghiêng, số đo đó không mặc nhiên tương đương khoảng đua ngang mà mô hình đang sử dụng.

Đơn giá trọn gói theo m² mái thực

Đây là số tiền áp dụng cho mỗi mét vuông bề mặt mái, không phải mỗi mét vuông sàn. Theo mô tả trên giao diện, đơn giá gồm vật liệu lợp, khung kèo và nhân công lắp đặt; phụ kiện được cộng thêm ở dòng riêng. Vai trò của đơn giá là chuyển diện tích thành chi phí chính. Từ “trọn gói” vẫn cần đối chiếu với báo giá thực tế, vì không thể tự suy ra đã bao gồm thuế, vận chuyển, tháo dỡ hay mọi công việc phụ trợ.

Các ô nhập của công cụ tính mái gồm chiều dài và rộng nhà, kiểu mái, độ dốc phần trăm, đua mái mỗi phía, đơn giá theo mét vuông mái thực và tỷ lệ phụ kiện, cùng cách đọc các dòng kết quả
Hướng dốc được giả định chạy theo chiều rộng nhà; ô tiền chỉ giữ chữ số nên phải nhập đủ tiền đồng, và tỷ lệ phụ kiện là phần trăm của chi phí chính.

Cần nhập những gì và đọc kết quả như thế nào?

Thông số hình học và cách ghi số

Đầu vào Đơn vị hoặc lựa chọn Ý nghĩa
Chiều dài, chiều rộng nhà Mét Hai cạnh của mặt bằng chữ nhật
Kiểu mái Hai dốc, một dốc, mái bằng Chọn cách tính hình học
Độ dốc % Tỷ lệ tăng cao theo khoảng ngang
Đua mái mỗi phía Mét Khoảng mở rộng ngang ngoài tường
Đơn giá Đồng/m² mái thực Cơ sở tính chi phí chính
Phụ kiện % Khoản cộng trên chi phí chính

Hướng dốc được giả định chạy theo chiều rộng nhà. Vì thế, cần đối chiếu hai cạnh với sơ đồ mái thay vì đổi vị trí tùy ý; đổi cạnh có thể giữ nguyên diện tích nhưng làm thay đổi chiều cao và chiều dài mặt dốc.

Các ô kích thước và tỷ lệ đọc được dấu phẩy hoặc dấu chấm thập phân, chẳng hạn 0,5 hoặc 0.5. Không nên dùng dấu phân nhóm hàng nghìn trong những ô này. Nút tăng giảm có khoảng giới hạn riêng: chiều dài 1–100 m, chiều rộng 1–60 m, độ dốc 0–100%, đua mái 0–2 m và phụ kiện 0–40%. Đây không phải kiểm tra đầy đủ khi nhập tay.

Đơn giá, vật liệu và tỷ lệ phụ kiện

Danh sách vật liệu cung cấp năm mức giá gợi ý, từ tôn sóng thường đến ngói gốm tráng men. Chọn vật liệu sẽ điền lại đơn giá tương ứng, kể cả khi bạn vừa nhập giá khác. Lựa chọn này không tự thay độ dốc hay công thức diện tích.

Nên nhập đủ tiền đồng, ví dụ 650000 hoặc 650.000, không nhập 650k. Ô tiền chỉ giữ các chữ số nên cách viết rút gọn có thể tạo mức giá sai. Tỷ lệ phụ kiện là phần trăm chi phí chính, không phải phần trăm diện tích mái.

Ý nghĩa các dòng kết quả

Diện tích mái thực là cơ sở nhân đơn giá; diện tích hình chiếu là diện tích bao mái nhìn từ trên xuống. Chiều dài mỗi phía là chiều dài trên mặt nghiêng, còn chiều cao nóc tính từ đỉnh tường; với mái một dốc, nên hiểu là chênh cao giữa hai phía.

Kết quả tiền tách thành chi phí chính, phụ kiện và tổng cộng. Diện tích hiển thị tối đa một chữ số thập phân; chiều dài, chiều cao tối đa hai chữ số; tiền làm tròn đến đồng. Tuy nhiên, tiền được tính bằng diện tích chưa làm tròn, nên phép nhân từ số diện tích đang thấy có thể lệch nhẹ.

Công thức tính mái gồm chiều dài và rộng bao mái cộng hai lần đua mái, hệ số dốc bằng căn của một cộng bình phương độ dốc, chiều cao dùng chiều rộng nhà chưa cộng đua và chi phí tách chính, phụ kiện, tổng
Dốc 30% cho hệ số khoảng 1,044, tức diện tích tăng khoảng 4,4% chứ không phải 30%; hai công thức chiều cao không cộng đua mái.

Cách tính diện tích mái, chiều cao và tổng chi phí

Từ kích thước nhà đến diện tích bao mái

Trước hết, công cụ mở rộng mặt bằng nhà để tính cả phần mái chìa ra ngoài tường. Do đua mái được áp dụng ở hai đầu của mỗi cạnh, các công thức là:

  • Chiều dài bao mái = chiều dài nhà + 2 × đua mái mỗi phía.
  • Chiều rộng bao mái = chiều rộng nhà + 2 × đua mái mỗi phía.
  • Diện tích hình chiếu = chiều dài bao mái × chiều rộng bao mái.

Kích thước dùng mét thì diện tích thu được là mét vuông. Phần đua ở đây là khoảng ngang, không phải đoạn đo trên bề mặt nghiêng. Hai kích thước bao mái là cơ sở tính mặt mái, còn chiều cao sẽ dùng chiều rộng nhà chưa cộng đua.

Từ độ dốc đến diện tích và chiều cao

Nhìn theo mặt cắt, khoảng chạy ngang, chiều cao tăng thêm và chiều dài mái tạo thành tam giác vuông. Từ quan hệ hình học đó, hệ số chuyển từ ngang sang nghiêng bằng √(1 + (độ dốc/100)²). Chẳng hạn, dốc 30% cho hệ số khoảng 1,044, tức diện tích tăng khoảng 4,4%, không phải 30%.

Với mái hai dốc đối xứng, chiều dài mỗi mặt mái theo hướng dốc bằng một nửa chiều rộng bao mái nhân hệ số dốc. Diện tích tổng bằng chiều dài bao mái nhân chiều dài mặt dốc rồi nhân hai. Phép nhân hai đã cộng đủ cả hai mặt.

Với mái một dốc, chiều dài mặt nghiêng bằng toàn bộ chiều rộng bao mái nhân hệ số. Do đó, cả hai kiểu đều có diện tích tổng bằng diện tích hình chiếu nhân hệ số dốc khi giữ nguyên các thông số tương ứng.

  • Chiều cao mái hai dốc = một nửa chiều rộng nhà × độ dốc/100.
  • Chênh cao mái một dốc = chiều rộng nhà × độ dốc/100.

Hai công thức chiều cao không cộng đua mái, khác với chiều dài mặt nghiêng. Với mái bằng, diện tích lấy bằng hình chiếu, bỏ qua độ dốc và không hiển thị chiều dài mặt dốc, chiều cao nóc. Mái dốc có độ dốc 0% cũng cho diện tích bằng hình chiếu, nên không thể nói diện tích thực luôn lớn hơn trong mọi trường hợp.

Từ diện tích mái thực đến dự toán tiền

Chi phí được tính theo ba quan hệ:

  • Chi phí chính = diện tích mái thực × đơn giá.
  • Chi phí phụ kiện = chi phí chính × tỷ lệ phụ kiện/100.
  • Tổng dự kiến = chi phí chính + chi phí phụ kiện.

Như vậy, tỷ lệ phụ kiện chỉ cộng tiền, không cộng thêm diện tích hoặc số lượng vật tư. Nếu diện tích và đơn giá không đổi, tăng tỷ lệ này chỉ làm tăng khoản phụ kiện và tổng ngân sách trong mô hình.

Bảng so sánh mái hai dốc, mái một dốc và mái bằng: hai kiểu dốc cùng bằng hình chiếu nhân hệ số, chênh cao mái một dốc gấp đôi chiều cao nóc mái hai dốc, mái bằng bằng hình chiếu và không hiển thị chiều dài mặt dốc hay chiều cao
Không lấy diện tích nền thay diện tích mái: chênh lệch đến từ phần đua mở rộng hình chiếu và độ nghiêng làm tăng diện tích mặt mái.

Mái một dốc, hai dốc và mái bằng khác nhau thế nào trong phép tính?

Cùng diện tích chưa chắc cùng cấu tạo và báo giá

Nội dung Hai dốc Một dốc Mái bằng
Diện tích Hình chiếu × hệ số dốc Hình chiếu × hệ số dốc Bằng hình chiếu
Chiều dài mặt dốc Nửa chiều rộng bao mái × hệ số Cả chiều rộng bao mái × hệ số Không hiển thị
Chiều cao Nửa chiều rộng nhà × độ dốc/100 Chiều rộng nhà × độ dốc/100 Không hiển thị
Ảnh hưởng của độ dốc Đến diện tích và chiều cao Đến diện tích và chênh cao Không áp dụng

Với cùng hình chiếu và độ dốc, mái một dốc và hai dốc có diện tích bằng nhau trong công cụ. Chênh cao của mái một dốc lại gấp đôi chiều cao nóc mái hai dốc nếu chiều rộng nhà không đổi.

Điều này không chứng minh báo giá thi công thực tế luôn bằng nhau. Cấu tạo khung, liên kết, xử lý mép mái và thoát nước có thể khác. Công cụ không tự định giá những khác biệt đó theo kiểu mái; chúng chỉ phản ánh vào dự toán nếu đơn giá hoặc tỷ lệ phụ kiện được điều chỉnh phù hợp.

Không lấy diện tích nền thay cho diện tích mái

Chênh lệch giữa diện tích nền và diện tích mái thực đến từ hai yếu tố: phần đua làm mở rộng hình chiếu, còn độ nghiêng làm tăng diện tích mặt mái. Không thể chỉ nhìn số mặt mái để quyết định cần nhân đôi diện tích nền.

Với mái bằng, không có phần tăng do hệ số dốc nhưng đua mái vẫn có thể làm diện tích lớn hơn nền nhà. Lựa chọn này chỉ là nhánh hình học: công cụ chưa tính chiều dày bê tông, cốt thép, cốp pha hay lớp chống thấm. Vì vậy, cùng một diện tích không có nghĩa là các cấu tạo mái có cùng ngân sách thực tế.

Cách dùng kết quả công cụ tính mái gồm giữ nguyên hình học khi so sánh năm mức đơn giá gợi ý từ 450.000 đến 1.300.000 đồng mỗi mét vuông và chuẩn bị diện tích mái thực cùng phạm vi công việc để hỏi báo giá
Chỉ đặt phụ kiện 0% nếu báo giá đã bao gồm đầy đủ diềm, úp nóc và máng xối; nếu còn hạng mục chưa gồm thì phải xác định riêng phần bổ sung.

Dùng kết quả để lập ngân sách và trao đổi báo giá

So sánh các phương án đơn giá trên cùng một mái

Để nhận biết phần chênh lệch do giá vật liệu, nên giữ nguyên kích thước, kiểu mái, độ dốc và đua mái khi so sánh. Khi diện tích không đổi, khác biệt về tổng tiền sẽ đến từ đơn giá và tỷ lệ phụ kiện đã chọn, thay vì bị trộn với thay đổi hình học.

Các mức có sẵn gồm 450.000 đồng/m² cho tôn sóng thường, 650.000 đồng/m² cho tôn cách nhiệt ba lớp, 850.000 đồng/m² cho ngói xi măng màu kèm kèo thép, 950.000 đồng/m² cho ngói đất nung kèm kèo thép và 1.300.000 đồng/m² cho ngói gốm tráng men cao cấp. Đây là giá gợi ý trong công cụ, không phải xác nhận giá thị trường hiện hành.

Chuẩn bị thông tin để hỏi báo giá

Khi trao đổi với nhà thầu, hãy đưa diện tích mái thực cùng mô tả hình dạng mái, thay vì chỉ nêu diện tích sàn. Cần hỏi rõ chủng loại vật liệu, quy cách khung kèo, nhân công và những công việc đã nằm trong đơn giá trên mỗi mét vuông.

Đặc biệt, đối chiếu diềm, úp nóc và máng xối để tránh tính trùng. Chỉ đặt phụ kiện bằng 0% nếu phạm vi báo giá đã bao gồm đầy đủ các khoản tương ứng; nếu còn hạng mục chưa bao gồm, cần xác định riêng phần bổ sung.

Ngân sách mái cũng nên được đặt trong tổng chi phí công trình. Khi cần nhìn rộng hơn, bạn có thể tham khảo dự toán chi phí xây nhà trọn gói theo m² để xem xét phần mái bên cạnh các hạng mục khác, đồng thời kiểm tra phạm vi nhằm tránh cộng cùng một khoản hai lần.

Ba ví dụ tính mái gồm nhà 8x6 mét dốc 75 phần trăm hệ số 1,25 cho 60 mét vuông và tổng 29.700.000 đồng ở cả hai kiểu dốc, và mái bằng nhà 10x5 mét đua 0,5 mét cho 66 mét vuông và tổng 47.190.000 đồng
Độ dốc 75% chỉ phục vụ minh họa vì cho hệ số 1,25 dễ đối chiếu, không phải khuyến nghị thiết kế hay thi công.

Ví dụ tính mái hai dốc, một dốc và mái bằng

Mái hai dốc: tính đủ hai mặt mà không nhân đôi thừa

Giả định nhà dài 8 m, rộng 6 m, không đua mái, chọn mái hai dốc với độ dốc 75%. Đơn giá giả định là 450.000 đồng/m², phụ kiện 10%. Độ dốc 75% chỉ phục vụ minh họa vì tạo hệ số dễ đối chiếu, không phải khuyến nghị thiết kế hay thi công.

  • Diện tích hình chiếu: 8 × 6 = 48 m².
  • Hệ số dốc: √(1 + 0,75²) = 1,25.
  • Chiều dài mỗi phía mái: 6/2 × 1,25 = 3,75 m.
  • Diện tích cả hai mặt: 8 × 3,75 × 2 = 60 m².
  • Chiều cao nóc từ đỉnh tường: 6/2 × 0,75 = 2,25 m.

Chi phí chính bằng 60 × 450.000 = 27.000.000 đồng. Phụ kiện bằng 2.700.000 đồng, nên tổng dự kiến là 29.700.000 đồng. Con số 60 m² đã gồm hai mặt mái; nhân đôi lần nữa sẽ làm sai cả diện tích và dự toán. Các kết quả này được suy ra từ công thức, không phải mô tả một lần chạy thử.

Đổi sang mái một dốc: diện tích giữ nguyên, chiều cao thay đổi

Giữ nguyên nhà 8 × 6 m, không đua mái, độ dốc 75%, đơn giá 450.000 đồng/m² và phụ kiện 10%; chỉ chuyển sang mái một dốc. Hình chiếu vẫn là 48 m² và hệ số vẫn là 1,25.

  • Chiều dài toàn mặt dốc: 6 × 1,25 = 7,5 m.
  • Diện tích mái: 8 × 7,5 = 60 m².
  • Chênh cao theo mô hình: 6 × 0,75 = 4,5 m.

Chi phí chính vẫn là 27.000.000 đồng, phụ kiện 2.700.000 đồng và tổng vẫn 29.700.000 đồng. Điều cần nhận ra là đổi kiểu mái không tự làm đổi diện tích trong giả định này. Tuy nhiên, chiều dài mặt nghiêng và chênh cao đã khác, nên không thể coi hai phương án là tương đương về cấu tạo hoặc khả năng thi công.

Mái bằng có đua mái: diện tích tính tiền khác diện tích nhà

Giả định nhà 10 × 5 m, đua mái 0,5 m mỗi phía, chọn mái bằng. Dùng đơn giá giả định 650.000 đồng/m² và phụ kiện 10% để minh họa nhánh tính toán, không xem đây là báo giá mái bê tông.

Chiều dài bao mái bằng 10 + 2 × 0,5 = 11 m; chiều rộng bằng 5 + 2 × 0,5 = 6 m. Diện tích hình chiếu và diện tích mái đều bằng 11 × 6 = 66 m², thay vì 50 m² diện tích nền.

Chi phí chính là 66 × 650.000 = 42.900.000 đồng. Phụ kiện là 4.290.000 đồng, tổng dự kiến 47.190.000 đồng. Không có dòng chiều dài mặt dốc hay chiều cao nóc. Ví dụ cho thấy đua mái vẫn ảnh hưởng đáng kể dù không nhân hệ số nghiêng; phép nhân đơn giá này không xác lập đủ chi phí bê tông, thép và chống thấm.

Giới hạn của công cụ tính mái gồm không hỗ trợ mặt bằng chữ L, mái bốn dốc hay nhiều độ dốc, diện tích chưa gồm chồng mí và hao hụt cắt, đơn giá gợi ý chưa xác minh và công cụ không kiểm tra tải trọng hay kết cấu
Thay mái tôn bằng ngói trên nhà cũ cần kỹ sư đánh giá kết cấu hiện hữu; thuế, vận chuyển, tháo dỡ và chống thấm không có dòng tính riêng.

Giới hạn của dự toán và các khoản cần kiểm tra thực tế

Diện tích hình học chưa phải bảng đặt vật tư

Mô hình không có thông số riêng cho mặt bằng chữ L, mái bốn dốc, mái nhiều khối, giật cấp, thung mái hoặc nhiều độ dốc. Đua mái không đều giữa các cạnh cũng không được thể hiện chính xác bằng một giá trị chung.

Diện tích kết quả chưa gồm phép bóc tách chồng mí, cắt hao, số tấm tôn, số viên ngói hay quy cách đóng gói. Phụ kiện chỉ là tỷ lệ tiền, không phải chiều dài diềm, úp nóc hoặc máng xối. Cần bảng vật tư riêng trước khi đặt mua.

Ngoài ra, nhập tay có thể vượt khoảng của nút tăng giảm hoặc đưa số âm vào một số ô. Dữ liệu không đọc được có thể thành 0 mà không có cảnh báo đầy đủ. Việc xuất hiện kết quả không xác nhận đầu vào hoặc phương án xây dựng hợp lệ.

Đơn giá và kết cấu phải được xác nhận riêng

Giá gợi ý chưa có căn cứ xác minh thời điểm và địa bàn. Thuế, vận chuyển, tháo dỡ, chống thấm hoặc gia cường không có dòng tính riêng; phải hỏi xem đã được tính trong báo giá hay chưa.

Các khoảng độ dốc ghi trên giao diện không thay thế hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc thiết kế. Công cụ không kiểm tra tải trọng, gió hay khả năng chịu lực. Đặc biệt, thay mái tôn bằng ngói trên nhà cũ cần kỹ sư đánh giá kết cấu hiện hữu.

Với công trình cải tạo, nên xem phần mái trong phạm vi sửa chữa chung. Bạn có thể tham khảo dự toán chi phí sửa nhà, cải tạo theo hạng mục khi tổ chức ngân sách, nhưng vẫn cần xác nhận riêng những công việc phát sinh tại công trình.

Câu hỏi thường gặp

Độ dốc 30% có phải là góc mái 30° không?

Không. Độ dốc 30% nghĩa là chênh cao bằng 30% khoảng chạy ngang, chẳng hạn tăng 0,3 m trên đoạn ngang 1 m. Góc 30° là một cách đo độ nghiêng khác, không thể nhập nguyên con số đó vào ô phần trăm rồi xem là tương đương. Nếu bản vẽ chỉ ghi góc, cần xác định tỷ lệ dốc tương ứng trước khi dùng công cụ. Nhầm hai đơn vị này sẽ làm sai cả chiều cao lẫn diện tích dự kiến.

Chọn mái hai dốc rồi có cần nhân đôi diện tích kết quả nữa không?

Không cần. Diện tích mái thực trả về đã cộng đủ hai mặt đối xứng theo giả định mái chữ A của công cụ. Dòng chiều dài mỗi phía chỉ mô tả một mặt theo hướng nghiêng, không có nghĩa diện tích tổng mới tính một phía. Bạn dùng trực tiếp diện tích mái thực để đối chiếu đơn giá theo mét vuông mái. Nếu công trình có thêm mái phụ hoặc khối mái khác, cần xem xét riêng phần đó chứ không nhân đôi toàn bộ kết quả hiện có.

Báo giá đã gồm diềm và úp nóc thì nên nhập phụ kiện bao nhiêu phần trăm?

Có thể nhập 0% nếu đơn giá đã bao gồm toàn bộ phụ kiện mà bạn muốn dự toán thêm. Tuy nhiên, việc đã gồm diềm và úp nóc chưa chắc đồng nghĩa đã gồm máng xối hoặc tất cả chi tiết phụ trợ. Hãy đối chiếu danh mục công việc trước khi bỏ khoản này. Nếu chỉ còn một số phụ kiện chưa được báo giá, tỷ lệ nhập nên phản ánh phần còn thiếu trên chi phí chính, không cộng lại những khoản đã nằm trong đơn giá.

Vì sao lấy diện tích đang hiển thị nhân đơn giá lại hơi lệch tiền công cụ tính?

Nguyên nhân có thể là diện tích hiển thị đã được làm tròn, còn phép tính tiền sử dụng giá trị diện tích đầy đủ trước khi làm tròn. Do đó, tính ngược từ con số chỉ có tối đa một chữ số thập phân không nhất thiết khớp đến từng đồng. Ngoài ra, cần phân biệt chi phí chính với tổng cộng: tổng còn có phụ kiện theo tỷ lệ đã nhập. Khi đối chiếu, hãy kiểm tra đúng dòng tiền và cùng phạm vi chi phí.

Có thể lấy diện tích mái kết quả để đặt mua ngay tôn hoặc ngói không?

Không nên dùng riêng con số đó để chốt đơn hàng. Đây là diện tích bề mặt hình học, chưa chuyển thành số tấm hoặc số viên theo quy cách sản phẩm. Lượng mua còn phụ thuộc khổ hữu dụng, chồng mí, cách chia tấm, phần cắt và bố trí tại các mép mái. Bạn có thể đưa diện tích cùng kích thước mái cho đơn vị cung cấp để lập bảng vật tư, nhưng cần kiểm tra quy cách và sơ đồ lợp trước khi đặt mua.

Các đơn giá có sẵn có phải giá thi công hiện hành tại địa phương không?

Không có đủ căn cứ để coi chúng là giá thi công hiện hành tại địa phương. Các mức này là lựa chọn gợi ý được cài trong công cụ, chưa kèm thông tin xác minh về thời điểm, khu vực hoặc điều kiện thương mại. Giá thực tế còn gắn với chủng loại, quy cách, khối lượng và điều kiện tiếp cận công trình. Nên thay bằng báo giá phù hợp với công việc của bạn, đồng thời kiểm tra các bên đang báo cùng một phạm vi trọn gói.

Chọn mái bằng bê tông có cho biết đủ tiền bê tông, thép và chống thấm không?

Không. Lựa chọn mái bằng chỉ lấy diện tích bao mái làm diện tích tính tiền rồi áp dụng đơn giá và tỷ lệ phụ kiện. Công cụ không có đầu vào về chiều dày sàn mái, lượng thép, cốp pha hay cấu tạo chống thấm để tính riêng các khoản đó. Vì vậy, đổi kiểu mái chưa đủ tạo thành dự toán bê tông cốt thép hoàn chỉnh. Muốn xác định ngân sách phù hợp, cần khối lượng theo thiết kế và báo giá đúng cấu tạo dự kiến.

11 bình luận

  • Phan Thị Nhung

    Có thêm mục dự toán sửa nhà theo hạng mục khá hợp lý, đang tính thay mái tiện xem luôn chi phí cải tạo.

  • Vũ Xuân Dũng

    Ưng nhất chỗ tính diện tích mái dốc, trước giờ mình cứ lấy diện tích nền nhà để ước tiền nên bị lệch khá nhiều.

  • Đặng Văn Quyên

    minh thu doi do doc thi dien tich mai cung doi theo, nhin vay moi thay khong the lay dien tich san de dat vat lieu dc.

  • Góp ý nhỏ là nên cho lưu hoặc tải kết quả dự toán, để mình gửi người nhà xem chứ chụp màn hình hơi bất tiện.

  • Vũ Bảo Quyên

    Hay á, ba mình hỏi mái dốc tốn thêm bao nhiêu diện tích mà mình giải thích mãi không rõ, giờ có cái để cùng xem rồi.

  • Phan Ngọc Tuấn

    Mái nhà có ô lấy sáng thì có trừ riêng phần đó được không nhỉ? Hay mình phải tự trừ sau khi có kết quả?

  • Ngô Hoài Quyên

    Có cần cộng thêm phần mái đua ra ngoài tường vào chiều dài, chiều rộng nhà không ạ? Sợ nhập thiếu rồi diện tích bị hụt.

  • Hồ Thu Dương

    tool tinh mai nay de dung ne, minh dang so chi phi lop ton voi lop ngoi cho nha o que.

  • Đỗ Thị Nhung

    Phần hướng dẫn dễ hiểu, người không rành xây dựng như mình vẫn nhập được các thông số cơ bản.

  • Phan Bảo Thảo

    Nhà mình mái lệch hai bên không bằng nhau thì chọn kiểu mái nào để tính cho gần đúng vậy mọi người?

Bình luận vui vẻ - Yêu cầu nâng cấp