
Công cụ tính gạch ốp lát và lát sàn là gì?
Công cụ tính gạch ốp lát và lát sàn là công cụ ước tính lượng gạch cần chuẩn bị, số hộp cần mua và chi phí gạch cộng nhân công dựa trên dữ liệu bạn nhập. Công cụ phục vụ bước lập ngân sách và trao đổi với cửa hàng, đội thi công; kết quả không phải báo giá hoàn thiện hay cam kết lượng vật tư chính xác cho mọi mặt bằng.
Chuỗi tính bắt đầu từ diện tích cần thi công và kích thước viên gạch. Sau đó, công cụ bổ sung tỷ lệ hao hụt, làm tròn nhu cầu thành số viên nguyên, rồi chuyển sang số hộp theo quy cách đóng gói. Giá mỗi hộp quyết định tiền mua gạch, còn đơn giá nhân công được nhân với diện tích thi công. Vì vậy, cùng một diện tích nhưng khác quy cách hộp hoặc báo giá có thể dẫn đến ngân sách khác nhau.
Phạm vi tính đồng thời gồm một khu vực lát sàn và một khu vực ốp tường. Hai khu vực có thể dùng kích thước, số viên mỗi hộp và giá hộp khác nhau, nhưng dùng chung tỷ lệ hao hụt và đơn giá nhân công. Nếu chỉ làm một phần, bạn để diện tích phần còn lại bằng 0.
Về kiến thức nền, dự toán ốp lát cần phân biệt lượng vật tư mua với diện tích bề mặt hoàn thiện. Công cụ thể hiện sự khác biệt này qua số viên nhu cầu, số hộp và diện tích gạch mua theo hộp. Tuy nhiên, tổng tiền chỉ gồm các khoản đã được mô hình hóa: gạch sàn, gạch tường và nhân công. Ngân sách thi công thực tế còn cần kiểm tra vật tư phụ, điều kiện mặt bằng và những công việc ngoài phạm vi đó.
Các thuật ngữ cần hiểu khi dự tính gạch ốp lát
Diện tích ốp lát thực tế
Diện tích ốp lát thực tế là diện tích bề mặt dự định thi công, tính bằng m². Với sàn, đó là phần nền cần lát; với tường, đó là phần mặt tường cần ốp sau khi xác định các khoảng không thi công. Đại lượng này ảnh hưởng đồng thời đến nhu cầu gạch và tiền nhân công. Không nên nhầm nó với diện tích xây dựng cả căn nhà hoặc diện tích gạch mua về. Công cụ nhận diện tích đã tính sẵn, không tự đo hay tự loại trừ cửa.
Diện tích một viên gạch
Diện tích một viên gạch là tích chiều dài và chiều rộng sau khi đổi về mét. Chẳng hạn, viên 60 × 60 cm có diện tích danh nghĩa 0,6 × 0,6 = 0,36 m². Đây là cơ sở chuyển diện tích thi công thành số viên lý thuyết: viên càng lớn thì số viên trên cùng diện tích thường càng ít. Điểm dễ nhầm là dùng trực tiếp số đo centimet trong phép tính m², hoặc cho rằng ít viên hơn đồng nghĩa chắc chắn rẻ hơn và ít hao hụt hơn.
Tỷ lệ hao hụt
Tỷ lệ hao hụt là phần trăm bổ sung để dự trù lượng gạch cho cắt ghép, vỡ hoặc phần không tận dụng được. Trong công cụ, tỷ lệ này áp dụng chung cho cả sàn và tường trước khi làm tròn số viên. Đây là giả định dự toán, không phải kết quả phân tích đường cắt của căn phòng. Hao hụt cũng khác phần dư do mua nguyên hộp: dù chọn hao hụt bằng 0, số viên thực mua vẫn có thể lớn hơn nhu cầu vì không mua lẻ từng viên trong mô hình.
Quy cách đóng hộp
Quy cách đóng hộp là số viên nằm trong một hộp của sản phẩm cụ thể, chẳng hạn 4 viên/hộp hoặc 5 viên/hộp. Thông tin này chuyển nhu cầu theo viên thành số hộp phải mua, đồng thời ảnh hưởng tiền gạch khi cửa hàng báo giá theo hộp. Không thể khẳng định mọi sản phẩm cùng kích thước đều đóng số viên giống nhau. Vì thế, quy cách điền sẵn chỉ là dữ liệu ban đầu; thông tin trên bao bì hoặc xác nhận từ nhà cung cấp mới phù hợp để lập dự toán mua hàng của bạn.
Diện tích phủ danh nghĩa
Diện tích phủ danh nghĩa là tổng diện tích hình học của các viên gạch có trong toàn bộ số hộp mua. Nó bằng số hộp nhân số viên mỗi hộp, rồi nhân diện tích một viên. Chỉ số này giúp hiểu lượng vật tư nhận được, nhưng không bảo đảm thi công được đúng bấy nhiêu mét vuông sau cắt ghép. Nếu dòng kết quả ghi diện tích phủ lớn hơn diện tích phòng, phần chênh lệch có thể bao gồm dự trù hao hụt và dư do đóng hộp, không phải toàn bộ đều là gạch nguyên còn dùng được.

Cần chuẩn bị dữ liệu gì và đọc kết quả như thế nào?
Thông tin diện tích, gạch và đơn giá cần có
Bạn cần chuẩn bị dữ liệu đo đạc và thông tin sản phẩm, thay vì chỉ nhập diện tích rồi giữ nguyên mọi giá trị có sẵn. Các nhóm đầu vào gồm:
- Diện tích: diện tích sàn và diện tích tường cần ốp, đơn vị m².
- Kích thước gạch: tính bằng cm, chọn riêng cho sàn và tường.
- Quy cách, giá: số viên/hộp và giá đồng/hộp của từng loại gạch.
- Giả định chung: tỷ lệ hao hụt theo % và đơn giá nhân công theo đồng/m².
Có tám kích thước để chọn: 30 × 30, 40 × 40, 50 × 50, 60 × 60, 80 × 80, 30 × 60, 60 × 120 và 15 × 90 cm. Mặc định sàn dùng 60 × 60 cm, tường dùng 30 × 60 cm; không có ô nhập kích thước tùy ý. Khi đổi kích thước, số viên mỗi hộp và giá hộp được thay bằng dữ liệu điền sẵn tương ứng. Bạn cần kiểm tra lại hai ô này theo sản phẩm định mua.
Với các ô diện tích, giá, hao hụt và nhân công, hãy dùng dấu phẩy cho phần thập phân: 12,5 nghĩa là mười hai phẩy năm. Giá 250.000 được đọc là hai trăm năm mươi nghìn đồng. Dấu chấm bị bỏ trước khi đọc số, nên nhập 12.5 vào diện tích sẽ không được hiểu là 12,5 m². Riêng số viên mỗi hộp nên là số nguyên dương, không kèm đơn vị.
Ý nghĩa các dòng số viên, số hộp và chi phí
Số viên hiển thị là nhu cầu sau khi cộng hao hụt và làm tròn, còn số hộp là lượng đóng gói nguyên cần mua. Tiền gạch được tính từ số hộp, không phải chỉ từ số viên nhu cầu. Dòng “phủ” cho biết diện tích danh nghĩa của toàn bộ gạch trong các hộp đó, hiển thị tối đa một chữ số thập phân.
Các khoản tiền được hiển thị đến đồng. Tổng số viên có thể cộng cả viên sàn và viên tường khác kích thước, nên chỉ là số đếm tổng hợp, không có nghĩa chúng thay thế cho nhau. Khi diện tích một khu vực bằng 0, dòng chi tiết gạch của khu vực đó không xuất hiện; dòng nhân công và tổng cộng vẫn được thể hiện.

Cách tính số viên, số hộp và tổng chi phí
Từ diện tích sang số viên có hao hụt
Trước hết, công cụ dùng diện tích một viên sau khi đổi hai cạnh từ centimet sang mét. Nhu cầu lý thuyết bằng diện tích cần thi công chia diện tích viên. Sau đó mới bổ sung tỷ lệ hao hụt và làm tròn lên:
Số viên = làm tròn lên [diện tích thi công ÷ diện tích một viên × (1 + tỷ lệ hao hụt ÷ 100)].
Hao hụt 10% tương ứng nhân nhu cầu lý thuyết với 1,10. Phép tính được thực hiện riêng cho sàn và tường, nhưng dùng cùng tỷ lệ bạn nhập. Khu vực có diện tích bằng 0 trả về lượng gạch và tiền gạch bằng 0, không phát sinh một số hộp tối thiểu.
Giao diện gợi ý lát thẳng khoảng 7–10%, lát chéo hoặc xương cá 15%. Đây chỉ là thông tin tham khảo để chọn giả định. Công cụ không dựng sơ đồ lát, không xác định vị trí cắt và không tính khả năng dùng lại mảnh thừa để suy ra hao hụt riêng cho mặt bằng.
Vì sao cần hai lần làm tròn lên?
Lần làm tròn đầu chuyển nhu cầu có thể là số lẻ thành số viên nguyên. Lần thứ hai chuyển số viên đó thành số hộp nguyên theo công thức:
Số hộp = làm tròn lên [số viên có hao hụt ÷ số viên mỗi hộp].
Hai lần làm tròn giải quyết hai nhu cầu khác nhau: không dự trù một phần viên như một viên hoàn chỉnh, và không mua một phần hộp trong mô hình. Do đó, số viên chứa trong các hộp có thể vượt số viên nhu cầu. Công cụ không tự cộng thêm một hộp sửa chữa; lời nhắc giữ gạch dự phòng là khuyến nghị mua hàng, không phải bước tính bổ sung.
Cộng tiền gạch và tiền nhân công
Tiền gạch mỗi khu vực = số hộp × giá mỗi hộp. Tiền gạch sàn và tiền gạch tường được cộng lại. Diện tích danh nghĩa mua tương ứng bằng số hộp × số viên mỗi hộp × diện tích một viên.
Tiền nhân công = (diện tích sàn + diện tích tường) × đơn giá nhân công chung. Phần diện tích tăng do dự trù hao hụt và gạch dư trong hộp không được đưa vào tính công. Cuối cùng, tổng dự toán bằng tiền gạch hai khu vực cộng tiền nhân công. Đây là phép cộng các khoản đã nhập, không tự bổ sung vật tư phụ hoặc tính đơn giá thi công khác nhau cho sàn và tường.

Hai ví dụ dự toán gạch và nhân công có diễn giải
Chỉ lát sàn 50 m² với gạch 60 × 60 cm
Giả định chỉ lát sàn 50 m², không ốp tường; gạch 60 × 60 cm, đóng 4 viên/hộp, giá 250.000 đồng/hộp. Hao hụt là 10%, nhân công 65.000 đồng/m². Các mức giá này dùng để minh họa phép tính, không phải báo giá thị trường đã được xác minh.
Mỗi viên có diện tích 0,36 m². Nhu cầu sau hao hụt là 50 ÷ 0,36 × 1,10 ≈ 152,78 viên, làm tròn lên thành 153 viên. Chia cho 4 viên/hộp được 38,25 hộp, nên cần mua 39 hộp. Lượng hàng thực nhận theo quy cách này là 156 viên, nhiều hơn nhu cầu tính toán 3 viên.
| Khoản tính | Kết quả |
|---|---|
| Tiền gạch: 39 × 250.000 | 9.750.000 đồng |
| Nhân công: 50 × 65.000 | 3.250.000 đồng |
| Tổng gạch và nhân công | 13.000.000 đồng |
| Diện tích danh nghĩa: 156 × 0,36 | 56,16 m² |
Diện tích phủ hiển thị là 56,2 m² do làm tròn. So với 50 m² cần lát, phần chênh không phải diện tích chắc chắn có thể lát thêm: nó bao gồm cả phần dự trù cắt ghép và dư do mua hộp nguyên. Vì diện tích tường bằng 0, không có dòng chi tiết gạch tường trong kết quả.
Lát sàn 12 m² kết hợp ốp tường 10 m²
Ở ví dụ thứ hai, giả định sàn 12 m² dùng gạch 60 × 60 cm, 4 viên/hộp, giá 250.000 đồng/hộp. Tường 10 m² dùng gạch 30 × 60 cm, 5 viên/hộp, giá 160.000 đồng/hộp. Hai phần cùng áp dụng hao hụt 10% và nhân công 65.000 đồng/m².
Sàn cần làm tròn lên 12 ÷ 0,36 × 1,10 thành 37 viên, tương ứng 10 hộp. Gạch tường có diện tích 0,18 m²/viên; nhu cầu 10 ÷ 0,18 × 1,10 được làm tròn lên thành 62 viên, tương ứng 13 hộp.
| Kết quả | Sàn | Tường |
|---|---|---|
| Số viên nhu cầu | 37 viên | 62 viên |
| Số hộp cần mua | 10 hộp | 13 hộp |
| Số viên trong các hộp | 40 viên | 65 viên |
| Diện tích danh nghĩa mua | 14,4 m² | 11,7 m² |
| Tiền gạch | 2.500.000 đồng | 2.080.000 đồng |
Tổng hiển thị là 99 viên nhu cầu và 23 hộp. Tiền gạch bằng 4.580.000 đồng; nhân công trên 22 m² là 1.430.000 đồng; tổng dự toán bằng 6.010.000 đồng. Thực mua có 40 viên sàn và 65 viên tường, nhưng không nên hiểu thành 105 viên dùng chung: chúng khác kích thước và được phân bổ cho hai bề mặt riêng.

So sánh tính theo viên, theo hộp và theo đơn giá m²
Nhu cầu theo viên khác ngân sách mua nguyên hộp
Tính theo viên giúp hình dung lượng vật tư cần cho diện tích và mức hao hụt đã chọn. Tuy nhiên, con số này chưa phản ánh đầy đủ tiền phải trả nếu sản phẩm bán theo hộp nguyên. Chỉ cần nhu cầu vượt số viên trong các hộp hiện có, dù ít, mô hình vẫn phải bổ sung cả một hộp.
Tính theo hộp gắn trực tiếp hơn với quy cách bán và ngân sách mua gạch. Với diện tích nhỏ, phần dư do đóng hộp có thể chiếm tỷ lệ đáng chú ý. Vì vậy, khi so sánh hai sản phẩm, không nên chỉ nhìn số viên ít hay nhiều. Cần đối chiếu cả diện tích mỗi viên, số viên mỗi hộp và giá hộp thực tế.
Giá gạch mỗi m² khác chi phí thi công mỗi m²
Để đối chiếu vật tư, có thể quy đổi giá một m² gạch = giá hộp ÷ diện tích danh nghĩa một hộp. Ví dụ, hộp 4 viên kích thước 60 × 60 cm có diện tích 1,44 m². Giá quy đổi cho biết mức tiền trên diện tích danh nghĩa của sản phẩm, chưa phản ánh hao hụt và dư do mua nguyên hộp.
Đơn giá quy đổi này cũng không phải chi phí thi công mỗi m²: nó chưa gồm nhân công, keo hoặc vữa và những công việc khác. Khi đổi kích thước gạch để cân nhắc ngân sách, hãy dùng báo giá và quy cách đúng của từng lựa chọn. Công cụ cho phép tính lại theo dữ liệu mới, nhưng không chứng minh kích thước nào ít cắt hơn, đẹp hơn hoặc phù hợp kỹ thuật hơn với căn phòng.

Ứng dụng kết quả khi chuẩn bị mua gạch và lập ngân sách
Chuẩn bị thông tin trao đổi với cửa hàng và đội thi công
Sau khi có kết quả, hãy dùng số hộp của từng loại làm cơ sở trao đổi với cửa hàng. Bạn cần xác nhận đúng mẫu, kích thước, số viên/hộp và giá áp dụng, đồng thời hỏi khả năng cung cấp cùng lô sản xuất. Điều này hữu ích hơn việc chỉ đưa tổng số viên, nhất là khi sàn và tường dùng hai sản phẩm khác nhau.
Với đội thi công, nên đối chiếu diện tích đo, mức hao hụt dự kiến và phạm vi công việc nằm trong đơn giá. Nếu họ đề xuất tỷ lệ khác do mặt bằng hoặc kiểu lát, bạn có thể nhập lại để xem ngân sách thay đổi. Đây là tính lại với giả định mới, không phải công cụ tự chọn phương án tối ưu.
Đưa dự toán ốp lát vào kế hoạch cải tạo
Nếu công trình có nhiều phòng hoặc nhiều mẫu gạch, cần chia thành các lượt tính phù hợp và tổng hợp riêng. Công cụ không có danh sách quản lý nhiều phòng. Khi tổng hợp, hãy phân biệt các mẫu không thay thế nhau; việc gom số hộp và tận dụng phần dư cần dựa trên sản phẩm thực tế.
Khoản gạch cộng nhân công có thể được đưa vào kế hoạch ngân sách rộng hơn, chẳng hạn khi đối chiếu bằng công cụ dự toán chi phí sửa nhà theo hạng mục. Bạn vẫn cần tự tổng hợp các khoản, không nên hiểu hai công cụ tự chuyển dữ liệu cho nhau.
Cuối cùng, hãy quyết định lượng gạch sửa chữa muốn giữ lại và kiểm tra mã lô khi nhận hàng. Nếu muốn dành nguyên một hộp chưa sử dụng, cần đối chiếu lượng dư dự kiến và điều kiện mua thêm, thay vì mặc định kết quả đã chuẩn bị sẵn hộp đó.

Giới hạn của dự toán và những khoản cần kiểm tra thêm
Khoản chi và điều kiện thi công chưa được mô hình hóa
Tổng dự toán chưa gồm keo hoặc vữa và keo chà ron. Các khoản như vận chuyển, tháo dỡ lớp cũ, xử lý nền, phụ kiện và phát sinh cũng không có dòng tính riêng. Bạn cần xác nhận báo giá nhân công bao gồm công việc nào để tránh bỏ sót hoặc cộng trùng khoản chi.
Công cụ không đo mặt bằng, tự trừ cửa, tính độ rộng ron hay tối ưu đường cắt. Một tỷ lệ hao hụt và một đơn giá nhân công chung có thể chưa phản ánh khác biệt giữa sàn thông thoáng và tường nhiều góc, cửa hoặc vật cản. Diện tích và giả định thi công vì thế cần được kiểm tra trước khi chốt mua.
Dữ liệu nhập và giá tham khảo cần tự kiểm tra
Nên dùng diện tích không âm, số viên mỗi hộp là số nguyên dương, giá và hao hụt phù hợp thực tế. Dữ liệu gõ trực tiếp không được kiểm tra đầy đủ; đặc biệt, diện tích âm có thể làm sai phần nhân công dù phần gạch của khu vực đó trả về 0.
Nút tăng giảm diện tích dùng bước 5 m² trong khoảng 0–5.000 m²; nút hao hụt dùng bước 1 điểm phần trăm trong khoảng 0–40%. Đây không phải giới hạn được áp dụng đầy đủ cho dữ liệu nhập trực tiếp. Với diện tích có dấu phẩy thập phân, nút tăng giảm không đọc giống phép tính chính, nên cần kiểm tra lại số sau thao tác.
Giá điền sẵn và các khoảng tham khảo trên giao diện không có ngày cập nhật thị trường được xác minh. Ngoài ra, phần mã được cung cấp chỉ đủ xác định logic tính này, không đủ kết luận toàn website lưu trữ, truyền dữ liệu hay xử lý cục bộ như thế nào.
Câu hỏi thường gặp
Chỉ ốp tường, không lát sàn thì nhập thế nào?
Bạn để diện tích sàn bằng 0 và nhập diện tích tường thực sự cần ốp. Khi đó, phần gạch sàn không phát sinh số hộp hay tiền gạch, còn nhân công được tính trên diện tích tường với đơn giá chung đã nhập. Các thông tin kích thước, quy cách hộp và giá của phần tường vẫn cần kiểm tra theo sản phẩm định mua. Không cần dùng số âm hoặc cố xóa các thông số gạch sàn để bỏ khu vực này.
Tính diện tích tường có cửa ra vào hoặc cửa sổ ra sao?
Bạn cần tự xác định diện tích tường trước khi nhập, thường bằng tổng diện tích các mảng cần ốp trừ phần cửa hoặc phần không thi công. Với phòng chữ nhật và chiều cao ốp đồng đều, có thể bắt đầu từ chu vi phòng nhân chiều cao ốp. Sau đó đối chiếu từng khoảng cửa, hốc và phần cạnh cần hoàn thiện theo phạm vi thực tế. Công cụ không có ô kích thước cửa và không tự quyết định phần nào nên trừ.
Vì sao số viên hiển thị ít hơn số viên có trong các hộp phải mua?
Vì số viên hiển thị thể hiện nhu cầu đã cộng hao hụt, trong khi số hộp phải đáp ứng nhu cầu đó bằng quy cách đóng gói nguyên. Hộp cuối có thể chứa nhiều viên hơn phần còn thiếu, tạo ra lượng dư do mua hàng. Đây không phải việc công cụ quên cộng hao hụt. Khi nhận hàng, bạn nên kiểm tra số hộp và quy cách thực tế; còn lượng dư có sử dụng được cho sửa chữa hay không phụ thuộc quá trình cắt và thi công.
Có cần tự điều chỉnh diện tích vì độ rộng ron không?
Không nên tự giảm diện tích theo một tỷ lệ ron ước chừng rồi coi kết quả là chính xác hơn. Công cụ không có đầu vào độ rộng ron và tính lượng gạch theo diện tích hình học của viên. Tác động thực tế còn liên quan kích thước phòng, số hàng, vị trí bắt đầu lát và đường cắt. Hãy giữ số đo bề mặt cần thi công rõ ràng; nếu cần bóc tách chi tiết theo ron, nên đối chiếu bản bố trí với người thi công.
Tăng hao hụt có làm tăng tiền nhân công trong kết quả không?
Không, nếu diện tích và đơn giá nhân công giữ nguyên thì tăng hao hụt không làm thay đổi tiền công trong mô hình. Hao hụt tác động đến nhu cầu gạch, sau đó có thể làm tăng số hộp và tiền mua. Thậm chí một mức tăng nhỏ chưa chắc làm đổi số hộp vì vẫn nằm trong lượng đóng gói hiện tại. Nếu thực tế kiểu lát khó hơn được báo công cao hơn, bạn cần thay đơn giá riêng, không trông chờ tỷ lệ hao hụt tự phản ánh điều đó.
Vì sao đổi kích thước gạch lại làm thay đổi giá mỗi hộp đã nhập?
Vì mỗi lựa chọn kích thước có sẵn một bộ thông tin ban đầu gồm số viên mỗi hộp và giá hộp. Khi đổi lựa chọn, công cụ điền lại cả hai thông tin này, kể cả khi trước đó bạn đã nhập báo giá khác. Đây không phải giá thị trường được truy vấn mới hay mức giá được cửa hàng xác nhận. Sau mỗi lần đổi kích thước, bạn nên kiểm tra lại quy cách và nhập đúng báo giá của sản phẩm đang cân nhắc.
Kết quả đã bao gồm một hộp gạch dự phòng sửa chữa chưa?
Chưa có bước tự cộng thêm một hộp riêng cho sửa chữa. Kết quả chỉ gồm nhu cầu có hao hụt và phần dư phát sinh khi quy đổi sang hộp nguyên. Phần dư đó có thể được dùng trong thi công, nên không bảo đảm còn nguyên một hộp sau hoàn thiện. Nếu muốn giữ hộp dự phòng, hãy trao đổi rõ khi đặt mua, kiểm tra cùng mã lô và cân nhắc lượng cần bổ sung theo phương án thi công, thay vì cộng mặc định mà không đối chiếu.


10 bình luận
Bùi Hải Hoàng
Mình muốn lưu kết quả hoặc tải ảnh về gửi cho chồng xem, mong web thêm nút này.
Vũ Ngọc Trung
Mình lát sàn và ốp tường bằng hai cỡ gạch khác nhau thì chọn riêng ở đâu vậy?
Trần Tiến Nhung
Góp ý thêm ô nhập số viên mỗi hộp nha, vì mình thấy cùng kích thước mà các hãng có thể đóng hộp khác nhau.
Lê Đức Nga
Có cả mức hao hụt là hợp lý, lát gạch kiểu gì cũng có phần cắt ở mép tường.
Nguyễn Thanh Hoàng
Giao diện khá dễ hiểu, phần hướng dẫn cũng vừa đủ để người không rành xây dựng dùng được.
Đặng Xuân Phương
tool de dung, nhap so lieu chut la uoc luong duoc tien gach roi.
Bùi Thị Mai
Nhà mình chỉ lát nền, để diện tích ốp tường bằng 0 là đúng phải không ạ?
Huỳnh Xuân Tú
Có mục ốp tường riêng tiện ghê, mình đang tính gạch cho nhà vệ sinh nên dùng được cả hai phần.
Vũ Thị Hải
Phần diện tích sàn mình nhập tổng cả nhà hay phải tính riêng từng phòng vậy mọi người?
Đặng Hải Kiên
Mình nhập diện tích phòng khách với cỡ gạch là ra số viên, số hộp luôn, đỡ phải ngồi tính tay như trước.