
Công cụ tính lương thử việc và lương part-time theo giờ là gì?
Công cụ tính lương thử việc và lương part-time theo giờ là tiện ích ước tính thu nhập theo hai cách trả lương: hưởng một tỷ lệ của lương tháng trong thời gian thử việc, hoặc hưởng tiền theo số giờ làm. Hai chế độ phục vụ hai nhu cầu riêng, giúp bạn dự trù khoản thu nhập theo thỏa thuận trước khi đối chiếu với bảng lương thực tế.
Ở chế độ thử việc, công cụ lấy lương chính thức làm cơ sở, nhân với tỷ lệ hưởng đã nhập rồi cộng phần phụ cấp tương ứng. Phụ cấp có thể chịu cùng tỷ lệ thử việc hoặc được hưởng đủ. Kết quả gồm lương gộp mỗi tháng, chênh lệch so với mức chính thức có phụ cấp, tổng thu nhập và tổng chênh lệch trong số tháng tính toán.
Ở chế độ part-time, công cụ dùng đơn giá đồng/giờ, số giờ làm mỗi tuần và số tuần để tính thu nhập. Ngoài tổng tiền của kỳ, bạn còn có mức bình quân tháng và mức quy đổi trên 208 giờ/tháng để tham khảo. Đơn giá giờ cũng được đối chiếu với bảng ngưỡng của vùng do người dùng chọn.
Các con số là ước tính theo dữ liệu nhập, không phải bảng lương cuối cùng. Công cụ không tính đầy đủ thuế, bảo hiểm, khoản thưởng hay các điều chỉnh theo chấm công. Nó cũng không tự xác nhận hợp đồng hợp pháp hoặc thay thế tư vấn thuế. Phần tính toán được xác nhận từ công cụ; các viện dẫn pháp luật hiển thị trong công cụ cần được kiểm tra riêng khi áp dụng cho trường hợp cụ thể.

Năm thuật ngữ cần hiểu trước khi đọc kết quả lương
Lương gộp và lương thực nhận
Lương gộp là số tiền trước các khoản khấu trừ áp dụng cho người lao động; lương thực nhận là khoản còn lại sau khi xử lý những khoản liên quan. Trong công cụ này, kết quả thử việc được xác định là lương gộp. Chế độ part-time cũng không có bước trừ thuế hoặc bảo hiểm. Vì vậy, số tiền nổi bật không nên được hiểu là khoản chắc chắn về tài khoản. Chênh lệch giữa hai khái niệm phụ thuộc tình trạng và thỏa thuận thực tế của từng người.
Tỷ lệ hưởng lương thử việc
Tỷ lệ hưởng lương thử việc là phần trăm dùng để tính phần lương trong giai đoạn thử việc từ mức lương chính thức đã nhập. Đây là yếu tố trực tiếp làm thay đổi thu nhập tháng. Mức 85% là giá trị mặc định của công cụ, không phải lựa chọn duy nhất. Tỷ lệ này chỉ tác động đến phụ cấp khi chọn áp dụng cùng tỷ lệ; không nên mặc định toàn bộ gói thu nhập đều bị giảm giống nhau.
Phụ cấp cố định
Phụ cấp cố định là khoản bổ sung theo tháng được giả định giữ nguyên mức cơ sở trong suốt kỳ tính. Công cụ tách khoản này khỏi lương chính thức để bạn chọn hưởng theo tỷ lệ thử việc hoặc hưởng đủ. Khái niệm đó không bao quát mọi khoản bổ sung thực tế: thưởng doanh số, hoa hồng hoặc hỗ trợ phụ thuộc ngày có mặt có thể biến động. Cần xác định khoản nào thực sự cố định trước khi đưa vào phép ước tính.
Thu nhập bình quân tháng
Thu nhập bình quân tháng là mức quy đổi từ thu nhập mỗi tuần theo giả định duy trì lịch làm ổn định trên cơ sở 52 tuần chia cho 12 tháng. Chỉ tiêu này giúp hình dung quy mô thu nhập theo tháng khi công việc được thỏa thuận theo giờ. Nó không phải tổng tiền của đúng bốn tuần, cũng không phải bảng lương cho một tháng dương lịch cụ thể. Tháng có lịch làm khác giả định sẽ có khoản thu thực tế khác.
Lương tối thiểu theo giờ của vùng
Lương tối thiểu theo giờ của vùng là ngưỡng tiền lương giờ gắn với vùng và phạm vi áp dụng của quy định liên quan. Công cụ sử dụng bảng bốn vùng cài sẵn để so sánh với đơn giá bạn nhập. Việc chọn vùng là do người dùng thực hiện, không phải kết quả tra cứu địa bàn tự động. Cần phân biệt cảnh báo dưới ngưỡng tham chiếu với một kết luận đầy đủ về hợp đồng, loại quan hệ lao động và quy định đang có hiệu lực.

Cần nhập những khoản nào và các kết quả có ý nghĩa gì?
Dữ liệu của chế độ thử việc
Bạn cần lương chính thức theo đồng/tháng, phụ cấp cố định theo đồng/tháng, tỷ lệ hưởng theo phần trăm và số tháng thử việc. Lương chính thức và phụ cấp là hai khoản riêng: nếu mức được thông báo đã gồm phụ cấp, cần tách đúng cấu phần để tránh cộng khoản này hai lần. Lựa chọn phụ cấp quyết định khoản bổ sung được hưởng theo tỷ lệ hay đủ 100%.
Các ô tiền được đọc bằng cách giữ lại chữ số. Có thể nhập 12.000.000 để biểu thị mười hai triệu đồng, nhưng không dùng 12 triệu hoặc 25k với kỳ vọng công cụ tự quy đổi. Tỷ lệ có thể có phần thập phân bằng dấu phẩy hoặc dấu chấm; số tháng được đọc theo số nguyên. Nút tăng giảm tháng hoạt động trong khoảng 1–6, nhưng khoảng này không phải giới hạn pháp lý và không chặn mọi giá trị gõ trực tiếp.
Dữ liệu của chế độ part-time
Chế độ này cần đơn giá đồng/giờ, số giờ/tuần, số tuần và vùng nơi làm việc. Phép tính giả định cùng một đơn giá và lịch tuần ổn định trong kỳ. Nếu các tuần có số ca khác nhau, cần hiểu kết quả chỉ phản ánh lịch đại diện đã nhập, không phải chấm công chi tiết.
Giờ và tuần được đọc theo số nguyên, nên không nên nhập số lẻ với kỳ vọng giữ nguyên phần thập phân. Nút điều chỉnh giờ tăng giảm từng 2 giờ trong khoảng 0–60; nút tuần hoạt động trong khoảng 1–52. Đây là phạm vi của nút, không đồng nghĩa mọi dữ liệu nhập trực tiếp đều bị giới hạn tương tự.
Cách đọc các nhóm kết quả
| Nhóm kết quả | Ý nghĩa cần đọc |
|---|---|
| Lương thử việc tháng | Phần lương theo tỷ lệ cộng phụ cấp sau lựa chọn, trước khấu trừ. |
| Mức chính thức và chênh lệch | Mốc so sánh gồm lương cộng phụ cấp, cùng khoảng cách mỗi tháng. |
| Tổng kỳ thử việc | Thu nhập và chênh lệch cộng dồn theo số tháng tính toán. |
| Thu nhập tuần và tổng kỳ part-time | Tiền theo lịch tuần, tiền toàn kỳ và tổng số giờ tương ứng. |
| Bình quân tháng và mức 208 giờ | Hai phép quy đổi tham khảo, không phải khoản trả thêm. |
Chú thích đọc số thành chữ giúp đối chiếu dữ liệu nhập. Sau lần tính đầu tiên, thay đổi dữ liệu hoặc chuyển chế độ sẽ cập nhật kết quả, vì vậy cần đọc lại cả nhãn lẫn số tiền.

Công thức tính lương và quy tắc cảnh báo
Lương thử việc và chênh lệch
Phần lương thử việc được tính bằng làm tròn(lương chính thức × tỷ lệ ÷ 100). Nếu phụ cấp cùng tỷ lệ, phần phụ cấp bằng làm tròn(phụ cấp cố định × tỷ lệ ÷ 100). Nếu hưởng đủ, phụ cấp được giữ nguyên. Công cụ làm tròn riêng từng phần đến đồng rồi mới cộng thành lương thử việc tháng.
Mốc chính thức để so sánh bằng lương chính thức cộng phụ cấp cố định. Chênh lệch tháng bằng mốc này trừ lương thử việc tháng. Tổng thu nhập bằng lương thử việc tháng nhân số tháng; tổng chênh lệch cũng được nhân theo cùng số tháng. Không có bước quy đổi theo ngày bắt đầu, ngày kết thúc hoặc ngày công thực tế.
Thu nhập part-time và hai phép quy đổi
- Thu nhập tuần = đơn giá giờ × số giờ mỗi tuần.
- Tổng thu nhập kỳ = thu nhập tuần × số tuần.
- Tổng giờ làm = số giờ mỗi tuần × số tuần.
- Thu nhập bình quân tháng = làm tròn(thu nhập tuần × 52 ÷ 12).
- Mức tương đương toàn thời gian = đơn giá giờ × 208.
Hệ số 52/12 chuyển thu nhập tuần sang mức tháng bình quân, không lấy số tuần của kỳ làm hệ số tháng. Còn 208 giờ được công cụ giải thích là 8 giờ × 26 ngày. Đây là cơ sở quy đổi riêng để so đơn giá, không xác nhận lịch làm bắt buộc hay số giờ bạn thực tế được bố trí.
Khi nào xuất hiện cảnh báo?
Với tỷ lệ thử việc thông thường lớn hơn 0 nhưng dưới 85%, công cụ cảnh báo và vẫn tính theo tỷ lệ đó, không tự nâng lên 85%. Riêng tỷ lệ bằng 0, trống hoặc không đọc được được thay bằng 85% khi tính, nên cần tránh dùng các giá trị này để mô phỏng một thỏa thuận.
| Vùng đã chọn | Ngưỡng giờ cài sẵn |
|---|---|
| Vùng I | 25.500 đồng/giờ |
| Vùng II | 22.700 đồng/giờ |
| Vùng III | 20.000 đồng/giờ |
| Vùng IV | 17.800 đồng/giờ |
Cảnh báo part-time xuất hiện khi đơn giá nhỏ hơn ngưỡng vùng. Bằng ngưỡng được hiểu là không thấp hơn, chứ không phải cao hơn. Cảnh báo không tự sửa đơn giá hoặc ngăn tính tiền. Các mốc và viện dẫn pháp luật là nội dung được cài trong công cụ; việc có chúng không chứng minh công cụ luôn cập nhật quy định mới nhất.

Ví dụ tính lương thử việc và thu nhập part-time
Thử việc: phụ cấp cùng tỷ lệ hay hưởng đủ?
Giả định lương chính thức là 12.000.000 đồng/tháng, phụ cấp cố định 1.000.000 đồng/tháng, hưởng 85% trong 2 tháng. Nếu phụ cấp cũng hưởng 85%, phần lương là 12.000.000 × 85% = 10.200.000 đồng; phần phụ cấp là 850.000 đồng. Cộng lại, lương thử việc gộp bằng 11.050.000 đồng/tháng, tổng hai tháng là 22.100.000 đồng.
Mức chính thức gồm phụ cấp là 13.000.000 đồng/tháng. Chênh lệch mỗi tháng bằng 13.000.000 − 11.050.000 = 1.950.000 đồng, cả đợt là 3.900.000 đồng. Đây là khoảng cách số học giữa hai mức thu nhập giả định, không tự động là khoản doanh nghiệp nợ hoặc khoản có quyền truy đòi.
Giữ nguyên mọi dữ liệu, chỉ chuyển phụ cấp sang hưởng đủ: phần lương vẫn là 10.200.000 đồng, cộng 1.000.000 đồng phụ cấp thành 11.200.000 đồng/tháng. Tổng hai tháng là 22.400.000 đồng; chênh lệch tháng còn 1.800.000 đồng và chênh lệch cả đợt là 3.600.000 đồng. Một thay đổi về phụ cấp làm thu nhập tăng 150.000 đồng/tháng, tức 300.000 đồng trong kỳ giả định.
Part-time: tổng bốn tuần khác bình quân tháng
Giả định đơn giá 25.000 đồng/giờ, lịch làm 20 giờ/tuần, kéo dài 4 tuần và chọn vùng II. Thu nhập tuần bằng 25.000 × 20 = 500.000 đồng. Trong bốn tuần, tổng giờ là 20 × 4 = 80 giờ và tổng tiền là 500.000 × 4 = 2.000.000 đồng.
Bình quân tháng lại bằng làm tròn(500.000 × 52 ÷ 12) = 2.166.667 đồng. Số này cao hơn tổng bốn tuần vì cơ sở quy đổi không coi mỗi tháng chỉ có bốn tuần. Nó không có nghĩa bạn được trả thêm ngoài 80 giờ đã giả định. Mức tương đương toàn thời gian bằng 25.000 × 208 = 5.200.000 đồng/tháng, chỉ mô tả cùng đơn giá nếu tính trên 208 giờ.
Đổi vùng làm việc ảnh hưởng cảnh báo như thế nào?
Với vùng II, đơn giá 25.000 đồng/giờ cao hơn ngưỡng cài sẵn 22.700 đồng/giờ nên không có cảnh báo dưới ngưỡng. Nếu đổi sang vùng I và giữ nguyên đơn giá, giờ, tuần, tất cả kết quả thu nhập vẫn không đổi. Tuy nhiên, cảnh báo xuất hiện vì 25.000 đồng thấp hơn ngưỡng vùng I là 25.500 đồng/giờ.
Khoảng cách 500 đồng/giờ là so sánh với bảng tham chiếu của công cụ. Nó cho thấy cần kiểm tra đúng vùng và phạm vi áp dụng, không tự xác định nghĩa vụ pháp lý. Những con số trong các tình huống trên được tính theo công thức với giả định đã nêu, không phải số liệu chấm công hay bảng lương của một người cụ thể.

Ứng dụng kết quả để dự trù thu nhập và trao đổi mức lương
Dự trù nguồn tiền trong kỳ
Tổng thu nhập thử việc giúp bạn hình dung nguồn tiền trước khấu trừ của giai đoạn đã giả định. Khi lập ngân sách sinh hoạt, nên đối chiếu thêm ngày bắt đầu làm, thời điểm trả lương và cách xử lý tháng không đủ công. Tổng tiền của cả đợt không cho biết khoản nào sẽ đến trước một hạn thanh toán cụ thể.
Với part-time, tổng giờ và tổng tiền của kỳ hữu ích hơn mức tương đương toàn thời gian khi cân nhắc lịch học, di chuyển hoặc công việc khác. Hãy dùng lịch có khả năng thực hiện, không lấy số ca tối đa chưa được xác nhận làm nguồn thu chắc chắn. Nếu cần tham khảo bước sau khấu trừ, có thể dùng riêng công cụ tính lương Gross sang Net với dữ liệu phù hợp; không nên mặc định hai công cụ tự đồng bộ thông tin.
Chuẩn bị câu hỏi trước khi nhận việc
Hai cách hưởng phụ cấp giúp bạn đặt câu hỏi cụ thể hơn thay vì chỉ hỏi “thử việc nhận bao nhiêu”. Cần làm rõ mức lương công bố đã gồm phụ cấp chưa, khoản nào hưởng đủ, khoản nào chịu tỷ lệ và điều kiện để được thanh toán. Sự rõ ràng về cấu phần thường quan trọng hơn việc chỉ so một con số tổng.
Khi thấy cảnh báo dưới ngưỡng giờ, hãy kiểm tra lại đơn vị nhập, vùng nơi làm việc và loại thỏa thuận. Có thể đề nghị bên tuyển dụng giải thích cơ sở đơn giá và lịch làm dự kiến. Cảnh báo là dấu hiệu cần đối chiếu thêm, không phải kết luận tự động rằng một tranh chấp đã phát sinh hoặc một khoản bồi hoàn chắc chắn phải trả.
So sánh tổng kỳ, bình quân tháng và mức tương đương toàn thời gian
Ba con số part-time phục vụ ba câu hỏi khác nhau
| Chỉ tiêu | Câu hỏi được trả lời | Điều không thể suy ra |
|---|---|---|
| Tổng kỳ | Với số tuần đã nhập, mô hình tính được bao nhiêu tiền? | Ngày trả và số tiền sau khấu trừ. |
| Bình quân tháng | Nếu duy trì thu nhập tuần, mức quy đổi tháng là bao nhiêu? | Bảng lương của một tháng dương lịch cụ thể. |
| Tương đương 208 giờ | Cùng đơn giá, tính trên 208 giờ được bao nhiêu? | Khả năng có đủ ca hoặc mức tháng được cam kết. |
Thay đổi số tuần chỉ làm thay đổi tổng kỳ và tổng giờ, không làm đổi bình quân tháng. Thay đổi số giờ mỗi tuần tác động đến tổng kỳ và bình quân tháng, nhưng không đổi mức tương đương 208 giờ. Chỉ tiêu cuối dựa trên đơn giá giờ, không dựa trên lịch part-time bạn nhập. Nhận biết sự khác biệt này giúp tránh coi các con số là mâu thuẫn.
So sánh cùng cơ sở để tránh kết luận lệch
Trong thử việc, phần lương hưởng 85% không luôn có nghĩa toàn bộ gói thu nhập giảm đúng 15%. Nếu phụ cấp hưởng đủ, tỷ lệ giảm của tổng lương cộng phụ cấp sẽ khác tỷ lệ giảm của riêng phần lương. Vì vậy, cần so cả cấu phần thay vì lấy một tỷ lệ đại diện cho mọi khoản.
Khi cân nhắc hai lời mời làm việc, hãy đưa chúng về cùng cơ sở: đều là số gộp, xác định rõ phụ cấp và dùng khối lượng giờ tương đương. Một mức tháng đã gồm phụ cấp không thể so trực tiếp với mức chỉ gồm lương cơ sở của thỏa thuận. Tương tự, đơn giá giờ cao hơn chưa chắc tạo tổng thu nhập kỳ cao hơn nếu số giờ được bố trí ít hơn.

Giới hạn cần biết trước khi dùng kết quả lương
Khoản thu nhập và khấu trừ chưa được tính
Công cụ không có đầu vào riêng cho thuế, bảo hiểm, tăng ca, làm đêm, ngày lễ, thưởng, hoa hồng, nghỉ không lương hoặc khấu trừ khác. Nó cũng không mô phỏng lịch làm biến động theo từng tuần. Kết quả vì thế không thay thế bảng lương, hồ sơ chấm công hay hợp đồng. Với tháng không đủ công hoặc khoản phụ cấp phụ thuộc số ngày làm, mô hình tháng cố định có thể không phản ánh đúng khoản được thanh toán.
Cảnh báo pháp lý không thay việc đối chiếu quy định
Không dùng số tháng có thể nhập hoặc khoảng của nút tăng giảm làm bằng chứng về thời hạn thử việc được phép. Công cụ không phân loại chức danh và không xác định thời hạn theo ngày. Các viện dẫn pháp luật cùng bảng ngưỡng là nội dung triển khai sẵn, chưa được đối chiếu độc lập trong phạm vi bài viết. Muốn kết luận cho trường hợp cụ thể cần kiểm tra văn bản, thời điểm áp dụng, địa bàn và bản chất thỏa thuận.
Tránh diễn giải dữ liệu nhập bất thường
Tỷ lệ 0, trống hoặc không đọc được được tính bằng 85%; số tháng và số tuần dưới 1 được nâng lên 1; giờ âm được tính bằng 0. Một số nhãn vẫn có thể hiển thị số ban đầu, gây lệch giữa mô tả và phép tính. Tỷ lệ âm hoặc trên 100 cũng không bị chặn thành một khoảng hợp lệ, nên việc xuất hiện kết quả không xác nhận dữ liệu có ý nghĩa.
Hãy dùng số tiền nguyên đồng, tỷ lệ và thời gian phù hợp thỏa thuận, đồng thời sửa đầu vào bất thường trước khi đọc kết quả. Ngoài ra, thông tin hiện có chưa đủ để kết luận toàn bộ website chỉ xử lý cục bộ, không lưu dữ liệu hoặc bảo mật tuyệt đối; không nên suy ra các cam kết đó chỉ từ phần tính lương.
Câu hỏi thường gặp
Số tiền công cụ hiển thị có phải tiền thực nhận sau thuế và bảo hiểm không?
Không. Số tiền được tính chưa có bước khấu trừ thuế, bảo hiểm hay các khoản điều chỉnh cá nhân. Để dự tính tiền về tài khoản, bạn cần biết thêm những khoản thực tế áp dụng và cách thanh toán của nơi làm việc. Ngay cả khi không phát sinh khấu trừ, số nhận vẫn có thể khác mô hình nếu tháng đầu không đủ công, có nghỉ không lương hoặc lịch part-time thay đổi. Hãy coi kết quả là cơ sở đối chiếu trước khấu trừ.
Tôi có thể tính lương thử việc ở mức 90% hoặc 100% thay vì 85% không?
Có. Bạn có thể nhập 90% hoặc 100% để tính theo tỷ lệ thỏa thuận; 85% chỉ là giá trị ban đầu. Nếu phụ cấp được chọn hưởng cùng tỷ lệ, khoản đó cũng thay đổi tương ứng; nếu hưởng đủ thì giữ nguyên. Việc công cụ chấp nhận một tỷ lệ không đồng nghĩa đã xác nhận mọi điều kiện pháp lý của thỏa thuận. Riêng nhập 0 hoặc để trống không tạo tình huống hưởng 0%, vì phép tính sẽ dùng mức thay thế 85%.
Nếu phụ cấp được hưởng đủ trong thời gian thử việc thì nhập thế nào?
Hãy nhập phụ cấp vào khoản riêng và không chọn áp dụng cùng tỷ lệ thử việc cho phụ cấp. Khi đó, tỷ lệ vẫn dùng cho phần lương chính thức, còn khoản phụ cấp được cộng đủ vào thu nhập tháng. Trước khi nhập, cần chắc chắn lương chính thức chưa chứa chính khoản phụ cấp ấy để tránh tính trùng. Nếu hỗ trợ thực tế phụ thuộc ngày có mặt hoặc doanh số, dùng một mức cố định chỉ tạo ước tính theo giả định, không mô phỏng đầy đủ điều kiện hưởng.
Vì sao tổng thu nhập của bốn tuần thấp hơn thu nhập bình quân tháng?
Vì hai chỉ tiêu dùng hai khoảng thời gian khác nhau. Tổng bốn tuần chỉ cộng tiền của đúng bốn tuần đã nhập, còn bình quân tháng phân bổ thu nhập của 52 tuần cho 12 tháng. Theo cơ sở này, một tháng bình quân dài hơn bốn tuần. Khoảng chênh không phải tiền thưởng hoặc khoản trả thêm mà công cụ xác định cho bạn. Khi cần biết tiền của kỳ làm bốn tuần, hãy đọc tổng kỳ thay vì dùng số bình quân tháng.
Tại sao đổi số tuần làm việc nhưng thu nhập bình quân tháng không đổi?
Vì số tuần chỉ xác định độ dài kỳ cộng dồn, còn bình quân tháng được suy từ đơn giá giờ và lịch làm mỗi tuần. Nếu giữ hai yếu tố này, mức quy đổi tháng không đổi dù kỳ kéo dài ngắn hay dài hơn. Tổng tiền và tổng giờ mới là các chỉ tiêu thay đổi theo số tuần. Nếu thực tế những tuần bổ sung có lịch hoặc đơn giá khác, giả định ổn định của phép tính không còn mô tả đầy đủ công việc.
Đơn giá giờ bằng đúng ngưỡng vùng thì có bị cảnh báo dưới mức tối thiểu không?
Không. Điều kiện cảnh báo là đơn giá nhỏ hơn ngưỡng cài sẵn, nên bằng đúng ngưỡng sẽ không bị đánh dấu là thấp hơn. Cách đọc chính xác là “không thấp hơn”, không phải “cao hơn”, dù nhãn trạng thái có thể diễn đạt chưa thật sát. Việc không có cảnh báo chỉ phản ánh phép so sánh với vùng đã chọn. Nó không chứng minh bạn chọn đúng địa bàn hoặc toàn bộ thỏa thuận đã đáp ứng mọi yêu cầu áp dụng.
Nếu nhập 0 tháng thử việc hoặc để trống thì kết quả được tính cho bao lâu?
Phép tính vẫn dùng ít nhất 1 tháng, không tính thành kỳ không có thu nhập. Trong khi đó, một số dòng mô tả có thể giữ số đã nhập, khiến nhãn thời gian không khớp với cơ sở tính tiền. Bạn nên sửa thành số tháng nguyên đúng với kỳ dự định trước khi sử dụng kết quả. Nếu cần tính một phần tháng hoặc theo ngày công, công cụ này không có cơ chế riêng để phản ánh chính xác khoảng thời gian đó.
