
Trình tạo mã vạch Barcode là gì?
Trình tạo mã vạch Barcode là công cụ biến một chuỗi dữ liệu thành hình mã vạch một chiều, trong đó các vạch và khoảng trắng biểu diễn nội dung theo một hệ quy tắc nhất định. Người dùng cung cấp mã số hoặc chuỗi ký tự; công cụ kiểm tra điều kiện đầu vào, thực hiện mã hóa và dựng hình để xem trước hoặc tải xuống. Đây không phải công cụ đọc ảnh mã vạch hay tra cứu thông tin sản phẩm.
Công cụ hỗ trợ năm hệ ký hiệu: EAN-13, EAN-8, UPC-A, Code 39 và Code 128. Mỗi hệ có yêu cầu riêng về độ dài, tập ký tự và cách kiểm tra dữ liệu. Vì vậy, cùng một nội dung có thể hợp lệ với hệ này nhưng không phù hợp với hệ khác. Việc chọn hệ ký hiệu cần dựa vào dữ liệu cần biểu diễn và hệ thống sẽ tiếp nhận mã.
Cần phân biệt nội dung mã với hình ảnh mã vạch. Một chuỗi số là dữ liệu; các vạch chỉ là cách thể hiện dữ liệu ấy để thiết bị đọc nhận biết. PNG và SVG lại là định dạng tệp chứa hình ảnh, không phải những hệ mã hóa thay thế cho EAN hay Code 128.
Kết quả chính gồm bản xem trước, thông tin mã đầy đủ và ảnh tải xuống. Công cụ cũng hỗ trợ xử lý danh sách nhiều mã cùng định dạng, giúp chuẩn bị hình cho tem nội bộ hoặc bản in thử. Tuy nhiên, tạo được hình và có số kiểm tra đúng không đồng nghĩa mã đã được cấp cho thương phẩm. Công cụ không xác nhận quyền sử dụng mã, không đăng ký mã sản phẩm và không chứng minh mã thuộc về một mặt hàng cụ thể.

Đầu vào cần chuẩn bị và kết quả nhận được
Độ dài và ký tự hợp lệ của từng định dạng
Nên chuẩn bị mã dưới dạng chuỗi văn bản để giữ nguyên các số 0 ở đầu. Khoảng trắng đầu và cuối được bỏ trước khi xử lý; khoảng trắng bên trong vẫn có ý nghĩa với Code 39 và Code 128. Riêng EAN/UPC, công cụ loại mọi ký tự không phải chữ số 0–9, nên cần đối chiếu kết quả thay vì mặc định toàn bộ nội dung nhập đều được giữ lại.
| Định dạng | Đầu vào được xử lý | Điểm cần chú ý |
|---|---|---|
| EAN-13 | 12 hoặc 13 chữ số | 12 số được thêm số cuối; 13 số phải đúng số kiểm tra. |
| EAN-8 | 7 hoặc 8 chữ số | 7 số được thêm số cuối; 8 số được đối chiếu. |
| UPC-A | 11 hoặc 12 chữ số | 11 số được thêm số cuối; 12 số được đối chiếu. |
| Code 39 | A–Z, 0–9, khoảng trắng và -. $ / + % | Chữ thường được đổi thành chữ hoa; không nhập dấu * làm dữ liệu. |
| Code 128 | ASCII in được, từ dấu cách đến dấu ~ | Giữ phân biệt hoa thường; không nhận tiếng Việt có dấu. |
Đọc đúng mã đầy đủ và thông tin dưới ảnh
Mã đầy đủ là nội dung sau xử lý, có thể bao gồm số hoặc ký tự kiểm tra bổ sung. Dòng chữ dưới ảnh giúp con người đọc và đối chiếu, nhưng không phải lúc nào cũng chứa toàn bộ phần dữ liệu được mã hóa. Chẳng hạn, Code 39 bật mod-43 có ký tự kiểm tra trong mã đầy đủ nhưng không đưa ký tự đó vào dòng chữ dưới hình.
Thông báo số mô-đun mô tả chiều dài cấu trúc ký hiệu, gồm cả vạch và khoảng trắng bên trong, không phải số vạch đen. Nó cũng không phải số ký tự hay chiều rộng tính bằng milimét. Với mã đơn lẻ, chiều cao vạch có thể điều chỉnh từ 40 đến 120 px, mặc định 70 px; dòng chữ có thể bật hoặc tắt.
Khác biệt giữa kết quả đơn lẻ và hàng loạt
Mã đơn lẻ có thể tải PNG hoặc SVG. Danh sách hàng loạt chỉ có nút tải PNG riêng cho từng mã hợp lệ; ảnh dùng chiều cao vạch cố định 56 px và luôn hiện chữ, không theo tùy chọn chiều cao hay ẩn chữ của mã đơn lẻ.
Danh sách được tách theo dòng, bỏ dòng trống và dùng chung định dạng đang chọn. Mỗi lượt chỉ xử lý 60 dòng không rỗng đầu tiên. Dòng lỗi có thông báo riêng, không ngăn các dòng hợp lệ khác được tạo ảnh. Đơn vị px ở đây chưa xác định kích thước in vật lý; muốn biết tem rộng bao nhiêu mm còn cần thông số của quy trình in.

Năm thuật ngữ cần hiểu khi tạo và in mã vạch
Hệ ký hiệu mã vạch
Hệ ký hiệu mã vạch là bộ quy tắc quy định cách chuyển dữ liệu thành các vạch và khoảng trắng. EAN-13 và Code 128 là hai ví dụ, với tập ký tự và cấu trúc khác nhau. Chọn hệ ký hiệu ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung có thể nhập và khả năng hệ thống đích hiểu mã. Không nên nhầm nó với PNG hoặc SVG: hai định dạng ảnh này chỉ lưu hình đã dựng, không quyết định chuỗi dữ liệu được mã hóa theo quy tắc nào.
Chữ số hoặc ký tự kiểm tra
Đây là giá trị tính từ dữ liệu, dùng để hỗ trợ phát hiện một số lỗi nhập hoặc đọc. EAN/UPC dùng chữ số kiểm tra; Code 39 trong công cụ có tùy chọn mod-43; Code 128 tự có thành phần kiểm tra trong cấu trúc mã. Giá trị này không phải chữ ký số, mật khẩu hay chứng nhận nguồn gốc. Một người nhập nhầm dữ liệu vẫn có thể tạo được số kiểm tra tương ứng, nên kiểm tra đúng chỉ phản ánh quan hệ toán học trong mã, không xác nhận thông tin hàng hóa.
Mô-đun
Mô-đun là đơn vị bề rộng cơ sở để tạo nên các vạch và khoảng trắng. Một vạch rộng có thể chiếm nhiều mô-đun liên tiếp; do đó, số mô-đun không bằng số vạch nhìn thấy. Công cụ dùng đơn vị này để thông báo chiều dài cấu trúc mã và tính chiều rộng ảnh. Ví dụ, EAN-13 có phần ký hiệu dài 95 mô-đun, chưa tính vùng trắng hai bên. Con số 95 không có nghĩa ảnh rộng 95 mm, cũng không thể hiện mã chứa 95 ký tự.
Vùng trắng yên tĩnh
Vùng trắng yên tĩnh là khoảng trống cạnh mã vạch, giúp thiết bị đọc phân biệt ký hiệu với chữ, đường viền hoặc hình trang trí xung quanh. Khi dựng ảnh, công cụ dành 10 mô-đun mỗi bên. Không nên xem đây là mép thừa để cắt sát cho vừa tem. Với ảnh có nền trong suốt, vùng này cũng cần được đặt trên nền phù hợp. Khoảng trắng do công cụ tạo không tự chứng minh rằng mọi yêu cầu của tiêu chuẩn và hệ thống sử dụng đều đã được đáp ứng.
GS1 và GTIN
Về kiến thức nền, GS1 là tổ chức xây dựng hệ thống tiêu chuẩn nhận dạng, còn GTIN là mã số nhận dạng thương phẩm trong hệ thống đó. Cần phân biệt mã số được cấp, quản lý hợp lệ với hình EAN/UPC biểu diễn mã số ấy. Công cụ chỉ dựng hình, không thực hiện đăng ký hoặc xác minh GS1. Ngoài ra, tiền tố đăng ký không phải căn cứ độc lập để xác định nơi sản xuất: một mã có tiền tố liên quan đến nơi đăng ký không đủ để kết luận hàng được làm tại nơi đó.

Công cụ tính số kiểm tra và mã hóa dữ liệu như thế nào?
Số kiểm tra EAN-13, EAN-8 và UPC-A
Quá trình bắt đầu bằng việc chuẩn hóa đầu vào, kiểm tra độ dài rồi tính hoặc đối chiếu số cuối. Với EAN-13, 12 chữ số dữ liệu được nhân lần lượt với trọng số 1, 3, 1, 3 từ trái sang phải. EAN-8 và UPC-A dùng trọng số 3, 1 luân phiên trên phần dữ liệu tương ứng. Các tích được cộng thành tổng có trọng số.
Công thức chung là: số kiểm tra = (10 − (tổng có trọng số mod 10)) mod 10. Trong đó, “mod” là phép lấy phần dư; không có bước làm tròn. Nếu tổng đã chia hết cho 10, số kiểm tra là 0, không phải 10.
Công cụ chỉ tự bổ sung khi thiếu đúng một chữ số cuối theo định dạng. Nếu đã nhập đủ độ dài, số cuối được so với kết quả tính từ phần dữ liệu. Mã sai bị từ chối chứ không được tự sửa, tránh âm thầm thay đổi một mã mà người dùng muốn giữ nguyên.
Ký tự mod-43 của Code 39
Code 39 trước tiên chuyển nội dung thành chữ hoa rồi kiểm tra tập ký tự. Khi bật mod-43, mỗi ký tự được quy đổi thành vị trí trong bảng 43 ký tự dữ liệu. Công cụ cộng các giá trị, lấy phần dư khi chia cho 43, rồi chọn ký tự ở vị trí tương ứng để nối vào nội dung mã hóa.
Các ký hiệu bắt đầu và kết thúc được thêm tự động khi tạo vạch. Chúng là thành phần cấu trúc, không phải dấu người dùng phải nhập. Ký tự kiểm tra tùy chọn cũng cần được phân biệt với nội dung hiển thị dưới ảnh, vì dòng chữ đó chỉ thể hiện dữ liệu đã chuyển thành chữ hoa.
Mã hóa cặp số trong Code 128 và dựng ảnh
Triển khai Code 128 dùng bộ B/C. Nó bắt đầu bằng bộ C nếu đầu chuỗi có ít nhất bốn chữ số, hoặc toàn chuỗi là số và dài ít nhất hai ký tự; trường hợp khác bắt đầu bằng bộ B. Bộ C mã hóa hai chữ số một lần. Khi không còn đủ cặp, nó chuyển sang B. Trong B, đoạn số liên tiếp dài ít nhất bốn ký tự kích hoạt chuyển sang C; nếu đoạn có độ dài lẻ, một số được xử lý trước.
Thành phần kiểm tra Code 128 dùng giá trị bắt đầu cộng các giá trị tiếp theo nhân vị trí, rồi lấy phần dư khi chia 103. Đây là quy tắc triển khai cụ thể, không phải tuyên bố tối ưu mọi chuỗi.
Ảnh được dựng với mô-đun rộng 2 đơn vị tọa độ SVG, cộng vùng trắng hai bên. PNG được chuyển từ SVG với kích thước pixel gấp ba và nền trắng. Tăng số pixel không tự bảo đảm chất lượng quét hoặc xác lập DPI in.

Ví dụ đọc kết quả và nhận biết dữ liệu không hợp lệ
EAN-13: thêm số kiểm tra và đối chiếu mã sai
Các chuỗi dưới đây chỉ là dữ liệu minh họa. Kết quả được tính theo logic của công cụ. Giả sử nhập 123456789012 dưới định dạng EAN-13, công cụ nhận 12 chữ số và tính số cuối từ tổng có trọng số:
1×1 + 2×3 + 3×1 + 4×3 + 5×1 + 6×3 + 7×1 + 8×3 + 9×1 + 0×3 + 1×1 + 2×3 = 92.
Phần dư của 92 khi chia 10 là 2, nên số kiểm tra bằng 8. Mã đầy đủ là 1234567890128. Với 95 mô-đun ký hiệu và 10 mô-đun trắng mỗi bên, chiều rộng SVG là (95 + 20) × 2 = 230 đơn vị. Nếu chiều cao vạch là 70 px và bật chữ, chiều cao ảnh là 70 + 20 = 90 px. Kích thước danh nghĩa SVG tương ứng 230 × 90 px; PNG được dựng ở 690 × 270 px.
Ngược lại, đầu vào 1234567890129 đủ 13 chữ số nhưng có số cuối 9 thay vì 8. Công cụ báo lỗi số kiểm tra và xóa bản xem trước hiện tại. Điều này cho thấy đúng độ dài chỉ là một điều kiện, chưa đủ để tạo ảnh.
Code 39 và Code 128: dữ liệu chữ số được biểu diễn ra sao?
Với Code 39, giả sử nhập ab và bật mod-43. Nội dung được chuyển thành AB; A có giá trị 10, B có giá trị 11. Tổng 21 tương ứng ký tự L, nên phần dữ liệu được mã hóa là ABL. Thông tin mã đầy đủ có L, nhưng chữ dưới hình vẫn là AB. Không cần tự gõ ký hiệu đầu và cuối.
Với Code 128, chuỗi 1234 được mã hóa bằng bộ C thành hai cặp 12 và 34. Giá trị kiểm tra là (105 + 12 × 1 + 34 × 2) mod 103 = 82. Dòng chữ vẫn là 1234: ghép cặp chỉ thay đổi cách xây dựng ký hiệu, không biến dữ liệu thành hai số mới để người dùng diễn giải riêng.
Danh sách hàng loạt có cả dòng đúng và dòng lỗi
Giả sử danh sách EAN-8 gồm một dòng 5512345, một dòng trống và một dòng 123. Dòng trống bị bỏ, nên tổng đầu vào được tính là hai mã. Dòng đầu có tổng trọng số 53, được thêm số kiểm tra 7 thành 55123457. Dòng còn lại không đủ độ dài.
Kết quả được hiểu là tạo được 1/2 mã: một ảnh hợp lệ có thể tải PNG riêng và một thông báo lỗi. Đây không phải tình trạng cả danh sách thất bại; cần sửa dòng lỗi rồi kiểm tra lại, đồng thời không coi dòng trống là một mã bị thiếu.

Ứng dụng cho tem nội bộ, danh mục hàng và bản in thử
Tem kho và tài sản nội bộ
Code 39 phù hợp để biểu diễn các định danh nội bộ như KHO-A01 hoặc TS-025, khi quy ước chỉ cần chữ hoa, số và dấu được hỗ trợ. Điều quan trọng là mỗi mã phải gắn với đúng bản ghi trong quy trình quản lý. Công cụ tạo hình không tự lập danh mục tài sản, chống trùng mã hay kết nối với phần mềm kho.
Code 128 có thể dùng cho chuỗi ASCII cần giữ phân biệt hoa thường hoặc kết hợp chữ và số. Tuy nhiên, thiết bị đọc và phần mềm nhận dữ liệu phải chấp nhận cách biểu diễn đó; không nên mặc định hai chuỗi khác hoa thường luôn được hệ thống đích phân biệt.
Dựng ảnh từ mã hàng đã có
Với EAN/UPC, cần tách hai tình huống: dựng ảnh từ mã hàng đã được cấp hợp lệ và tạo dữ liệu giả định để học tập, thử thiết kế. Trường hợp đầu cần giữ đúng toàn bộ Công cụ, kể cả số 0 đầu và số kiểm tra. Trường hợp sau không nên đưa mã minh họa vào lưu thông như thể đó là mã thương phẩm chính thức.
Khi có danh sách cùng định dạng, tạo hàng loạt giúp chuẩn bị nhiều hình mà không nhập từng mã vào vùng đơn lẻ. Trước khi sử dụng, vẫn cần đối chiếu mã đầy đủ với danh mục gốc, không chỉ kiểm tra rằng ảnh đã xuất hiện.
Thử bố cục tem trước khi in số lượng lớn
Bản in thử giúp đánh giá mã có vừa nhãn hay không, chữ có dễ đọc và vùng trắng có bị hình trang trí lấn vào không. Nên thử trên đúng vật liệu, máy in và thiết bị quét dự kiến sử dụng, vì bản xem trên màn hình chưa phản ánh chất lượng mực hay bề mặt tem.
Quét được một mẫu là tín hiệu thực tế hữu ích nhưng không thay thế kiểm định tiêu chuẩn. Trước khi in nhiều, cũng cần kiểm tra dữ liệu thiết bị trả về có khớp định danh mong muốn hay chỉ đơn giản là thiết bị phát ra âm báo.
Chọn EAN/UPC, Code 39, Code 128 hay mã QR?
Chọn theo dữ liệu và hệ thống sẽ đọc mã
Tiêu chí đầu tiên là yêu cầu của hệ thống nhận mã, sau đó mới đến hình thức tem. EAN-13, EAN-8 và UPC-A có độ dài cố định, thường gắn với ngữ cảnh bán lẻ. Nếu đã có mã thương phẩm, cần dùng hệ biểu diễn phù hợp với mã đó, không tự chuyển loại chỉ để hình trông ngắn hơn.
EAN-8 thường được nhắc đến trong bối cảnh bao bì nhỏ, nhưng không có nghĩa có thể cắt bớt EAN-13 thành tám chữ số. Tương tự, chọn UPC-A không chỉ là thay kiểu vạch: dữ liệu phải đáp ứng độ dài, số kiểm tra và yêu cầu của bên tiếp nhận.
Với định danh tự quản lý, Code 39 dễ phù hợp khi quy ước chỉ cần chữ hoa và tập dấu hạn chế. Code 128 trong triển khai này giữ hoa thường và hỗ trợ ASCII in được rộng hơn; nó còn mã hóa cặp số theo các quy tắc đã nêu. Tuy vậy, không có một tỷ lệ giảm chiều rộng cố định áp dụng cho mọi nội dung. Độ dài mã và thiết bị đọc vẫn cần được xét cùng nhau.
Khi nào nên cân nhắc mã QR?
Về kiến thức nền, mã vạch một chiều biểu diễn dữ liệu theo chiều ngang bằng vạch và khoảng trắng; QR là mã hai chiều. Nếu nhu cầu là thể hiện một liên kết để người dùng mở bằng điện thoại, QR thường là phương án đáng cân nhắc hơn việc buộc nội dung ấy vào một mã vạch dài.
Công cụ đang mô tả không tạo QR. Với nhu cầu riêng này, có thể tham khảo công cụ tạo và quét mã QR; đây là lựa chọn khác, không phải bước tích hợp tự động với trình tạo Barcode.
QR cũng không mặc nhiên thay thế được EAN/UPC tại mọi quầy thanh toán. Quyết định cuối cùng phải theo cách hệ thống nhận dữ liệu hoạt động, thiết bị có thể đọc loại ký hiệu nào và mục đích của mã là mở nội dung hay nhận dạng một bản ghi.

Giới hạn cần biết trước khi tải ảnh và in tem
Khả năng quét phụ thuộc bản in và thiết bị
PNG được dựng trên nền trắng, còn SVG không có lớp nền trắng riêng. Khi đặt SVG lên thiết kế màu, cần kiểm tra cả nền phía sau vạch lẫn vùng trắng hai bên. Một vùng trong suốt nhìn sạch trên trang trắng có thể không còn tương phản tốt khi chuyển sang mẫu tem khác.
Công cụ không cung cấp thiết lập mm, DPI hay kết quả kiểm định chất lượng. Tránh kéo giãn lệch tỷ lệ, cắt sát lề hoặc mặc định ảnh càng nhỏ càng tiết kiệm mà vẫn quét được. Khả năng đọc thực tế còn tùy độ nét, vật liệu, máy in và thiết bị.
Giới hạn xuất tệp và cập nhật danh sách
Giao diện không có tải cả bộ, ZIP, PDF hay dàn trang tem. Khi nhập quá 60 dòng không rỗng, chỉ 60 dòng đầu được xử lý; mẫu số trong thông báo vẫn có thể là tổng số dòng đã nhập, nên không được hiểu là toàn bộ danh sách đã hoàn tất.
Bật hoặc tắt mod-43 chỉ cập nhật ngay mã đơn lẻ. Các ảnh hàng loạt hiện có cần được dựng lại, chẳng hạn sau khi chỉnh nội dung danh sách, rồi mới đối chiếu và tải. Tùy chọn chiều cao và ẩn chữ của mã đơn lẻ cũng không áp dụng cho ảnh hàng loạt.
Những bảo đảm chưa thể đưa ra
Một số ký tự đặc biệt được Code 128 chấp nhận, chẳng hạn dấu &, có thể gây vấn đề khi tạo hoặc mở ảnh SVG vì phần chữ chưa được xử lý đầy đủ cho mọi trường hợp. Do đó, hợp lệ ở bước mã hóa không bảo đảm mọi lần xuất ảnh đều thành công.
Không có căn cứ để khẳng định ảnh đạt chuẩn thương mại, mọi thiết bị đều đọc được hoặc toàn website không lưu dữ liệu. Phân tích phần công cụ cũng không thay thế chính sách riêng tư hay kiểm tra toàn hệ thống; không nên đưa dữ liệu nhạy cảm vào chỉ vì tác vụ trông đơn giản.
Câu hỏi thường gặp
Tạo được ảnh EAN-13 có nghĩa là mã đã được đăng ký cho sản phẩm chưa?
Không. Tạo được ảnh chỉ cho thấy chuỗi nhập đáp ứng các điều kiện mà công cụ kiểm tra và đã được chuyển thành hình mã vạch. Nó không chứng minh mã được cấp cho doanh nghiệp, thuộc một sản phẩm hay được bên bán lẻ chấp nhận. Nếu dùng cho thương phẩm, cần xác nhận mã và quyền sử dụng qua quy trình phù hợp của hệ thống liên quan. Một số kiểm tra đúng cũng không giúp xác minh tên hàng, giá bán hoặc nguồn gốc của sản phẩm mang tem.
Vì sao mã đủ 13 chữ số vẫn báo lỗi số kiểm tra?
Vì độ dài và tính đúng của số cuối là hai điều kiện riêng. Với EAN-13 đầy đủ, công cụ tính lại số kiểm tra từ 12 chữ số đầu rồi đối chiếu chữ số thứ 13. Nếu khác nhau, mã bị từ chối thay vì tự sửa. Bạn nên kiểm tra lại nguồn dữ liệu, đặc biệt các vị trí dễ gõ nhầm hoặc bị thay đổi khi sao chép. Không nên xóa số cuối chỉ để vượt lỗi nếu mục tiêu là tái tạo chính xác một mã đã có.
Làm sao giữ số 0 ở đầu khi lấy mã từ bảng tính?
Hãy chuẩn bị cột mã dưới dạng văn bản trước khi nhập hoặc dán dữ liệu, rồi kiểm tra chuỗi thực tế được chuyển sang công cụ. Công cụ giữ số 0 nếu số đó vẫn còn trong đầu vào; nó không thể suy ra số 0 đã bị bảng tính loại mất. Cũng cần phân biệt định dạng hiển thị thêm số 0 với giá trị thực được sao chép. Khi có danh mục gốc, nên đối chiếu cả độ dài và toàn bộ ký tự, thay vì chỉ nhìn vài số cuối.
Có thể tạo Code 128 chứa tiếng Việt có dấu không?
Không trong triển khai hiện tại. Phần xử lý chỉ nhận ASCII in được từ dấu cách đến dấu ngã, không nhận chữ tiếng Việt có dấu hoặc ký tự điều khiển. Công cụ không tự bỏ dấu khi mã hóa. Nếu quy trình của bạn dùng định danh không dấu, hãy chuẩn bị một chuỗi phù hợp và bảo đảm nó vẫn ánh xạ đúng bản ghi cần quản lý. Không nên thay tên có dấu bằng chuỗi khác tùy tiện nếu hệ thống nhận mã đang yêu cầu nội dung nguyên gốc.
Vì sao ký tự kiểm tra Code 39 không xuất hiện dưới hình mã vạch?
Đó là cách công cụ trình bày kết quả: phần vạch có thể chứa ký tự mod-43 bổ sung, trong khi dòng chữ chỉ hiển thị nội dung nhập đã chuyển sang chữ hoa. Muốn đối chiếu phần dữ liệu có ký tự kiểm tra, hãy đọc thông tin mã đầy đủ của mã đơn lẻ. Không cần tự thêm ký tự ấy vào đầu vào chỉ để nó xuất hiện dưới ảnh, vì nếu vẫn bật mod-43, công cụ sẽ tiếp tục tính một ký tự kiểm tra cho chuỗi mới.
Vì sao danh sách hàng loạt chưa đổi sau khi bật mod-43?
Vì thay đổi tùy chọn mod-43 không kích hoạt dựng lại ngay danh sách hàng loạt đang hiển thị. Mã đơn lẻ được cập nhật, nhưng các ảnh cũ trong danh sách vẫn có thể phản ánh lựa chọn trước đó. Sau khi chọn trạng thái mong muốn, cần để danh sách được dựng lại, chẳng hạn bằng cách chỉnh nội dung danh sách, rồi kiểm tra trước khi tải. Tránh dùng thao tác đổi định dạng chỉ để làm mới nếu bạn không muốn danh sách bị diễn giải theo một hệ ký hiệu khác.
Nên tải PNG hay SVG để đưa vào thiết kế tem in?
Nên chọn theo phần mềm thiết kế và quy trình in. SVG phù hợp khi cần giữ mô tả vector của vạch, nhưng phải kiểm tra nền, vùng trắng và cách phần mềm nhập tệp. PNG có nền trắng và kích thước pixel lớn hơn ảnh SVG nguồn theo cách chuyển đổi của công cụ, thuận tiện với quy trình dùng ảnh raster. Tuy nhiên, PNG không tự có một DPI in cố định được bảo đảm, còn SVG không bảo đảm mọi kích thước đều quét được. Với cả hai, hãy kiểm tra bản in ở kích thước dự kiến trước khi sản xuất nhiều.
