Máy tính lực hấp dẫn và năng lượng

Trang chủ / Công cụ / Vật lý / Máy tính lực hấp dẫn và năng lượng
Sử dụng miễn phí Xử lý trực tiếp trên trình duyệt Kết quả tức thì
🤖 Chưa rõ cách dùng? Hỏi AI hướng dẫn
× 10

Khối lượng tính bằng kg.

× 10

Khối lượng tính bằng kg.

× 10

Nhập khoảng cách giữa tâm, không phải khoảng hở giữa hai bề mặt.

Khoảng cách km được đổi sang m trước khi bình phương.

Lực hấp dẫn (F)
—

Cách tính

Mô hình chất điểm: hai vật được coi như hai điểm đặt tại tâm của chúng.

Vận tốc âm vẫn cho động năng dương vì vận tốc được bình phương; độ cao âm cho thế năng âm khi vật nằm dưới mốc.

Tổng cơ năng (W)
—

Động năng (Wđ)—
Thế năng (Wt)—
Chi tiết

Tổng cơ năng chỉ mô tả trạng thái đang xét, chưa chứng minh cơ năng được bảo toàn trong cả quá trình.

Hướng dẫn nhanh ⏱ Thời gian: 1 phút

Hướng dẫn sử dụng Máy tính lực hấp dẫn và năng lượng

Thực hiện theo 4 bước dưới đây để tính lực hấp dẫn giữa hai vật hoặc động năng, thế năng và tổng cơ năng của một vật.

Bước1

Chọn chế độ cần tính

Chọn “🌍 Lực hấp dẫn” để tính lực hút giữa hai vật, hoặc “⚡ Năng lượng” để tính động năng, thế năng và tổng cơ năng.

💡 Mẹo: Hai chế độ dùng dữ liệu riêng, nên đổi chế độ không làm mất số đã nhập ở chế độ còn lại.
Bước2

Nhập khối lượng và khoảng cách cho lực hấp dẫn

Ở chế độ “🌍 Lực hấp dẫn”, nhập “Vật thể 1 (m₁)”, “Vật thể 2 (m₂)” theo dạng hệ số × 10 mũ, rồi nhập “Khoảng cách giữa tâm (r)” và chọn “Đơn vị khoảng cách”. Kết quả hiện ngay, không cần nhấn nút.

💡 Mẹo: Chọn nhanh “Trái Đất – Mặt Trăng” để xem ngay ví dụ thiên thể, hoặc dùng danh sách “Tự nhập” của từng vật để điền khối lượng Trái Đất, Mặt Trăng, Mặt Trời, Sao Mộc, Sao Hỏa.
Bước3

Nhập khối lượng, vận tốc và độ cao cho năng lượng

Ở chế độ “⚡ Năng lượng”, nhập “Khối lượng (m) [kg]”, “Vận tốc (v) [m/s]”, “Độ cao so với mốc (h) [m]” rồi chọn “Gia tốc trọng trường (g) [m/s²]”. Động năng, thế năng và tổng cơ năng cập nhật ngay.

💡 Mẹo: Vận tốc có thể âm vì bình phương vẫn cho động năng dương; độ cao âm cho thế năng âm khi vật nằm dưới mốc, đó không phải lỗi nhập liệu.
Bước4

Đọc chi tiết và copy kết quả

Mở “Cách tính” hoặc “Chi tiết” để xem phép thay số, tỉ lệ năng lượng và vận tốc chạm mốc khi rơi từ độ cao đã nhập, rồi nhấn “Copy kết quả” khi cần lưu lại.

💡 Mẹo: Khi có thông báo lỗi, kết quả cũ sẽ ẩn đi, nên chỉ dùng kết quả khi thông báo lỗi đã biến mất.
Máy tính lực hấp dẫn và năng lượng - tính lực hấp dẫn, động năng, thế năng và cơ năng
Máy tính lực hấp dẫn và năng lượng

Nội Dung

Máy tính lực hấp dẫn và năng lượng là gì?

Máy tính lực hấp dẫn và năng lượng là công cụ tính hai nhóm đại lượng trong cơ học: độ lớn lực hấp dẫn giữa hai vật và động năng, thế năng trọng trường, tổng cơ năng của một vật. Hai chế độ sử dụng những dữ liệu khác nhau, phục vụ việc kiểm tra phép tính và tìm hiểu quan hệ giữa các đại lượng, không mô phỏng chuyển động.

Về kiến thức vật lý, lực hấp dẫn là tương tác hút giữa các vật có khối lượng. Trong mô hình Newton, độ lớn lực phụ thuộc vào hai khối lượng và khoảng cách giữa chúng. Công cụ nhận các thông số này rồi trả về một giá trị tính bằng newton, không trả về hướng lực hay quỹ đạo của vật.

Ở chế độ năng lượng, động năng gắn với chuyển động, còn thế năng trọng trường gắn với vị trí so với một mốc độ cao. Công cụ tính từng thành phần rồi cộng chúng để có tổng cơ năng tại trạng thái đang xét. Kết quả được biểu diễn bằng joule.

Bài viết tập trung giải thích cách chọn dữ liệu, hiểu công thức và đọc kết quả. Chức năng chỉ tính năng lượng từ một bộ thông số. Tính được tổng cơ năng không đồng nghĩa đã chứng minh cơ năng được bảo toàn trong toàn bộ quá trình chuyển động.

Dữ liệu nhập cho chế độ lực hấp dẫn và chế độ năng lượng
Cần nhập dữ liệu nào và kết quả có ý nghĩa gì

Cần nhập dữ liệu nào và kết quả có ý nghĩa gì?

Đầu vào và đầu ra của chế độ lực hấp dẫn

Chế độ này cần hai khối lượng và khoảng cách giữa tâm hai vật. Mỗi số được nhập thành hệ số nhân với 10 lũy thừa số mũ. Chẳng hạn, 5,97 × 1024 kg gồm hệ số 5,97 và số mũ 24; kg là đơn vị, không nằm trong phép lũy thừa.

Đại lượng Đơn vị hoặc cách nhập Ý nghĩa, điều kiện
Khối lượng thứ nhất và thứ hai kg, dạng a × 10n Không âm; cho phép bằng 0
Khoảng cách m hoặc km, dạng a × 10n Khoảng cách giữa tâm, phải dương
Lực hấp dẫn đầu ra N Độ lớn lực theo mô hình Newton, không phải vectơ lực

Các khối lượng điền nhanh được triển khai gồm Trái Đất: 5,97 × 1024 kg; Mặt Trăng: 7,34 × 1022 kg; Mặt Trời: 1,989 × 1030 kg; Sao Mộc: 1,898 × 1027 kg; Sao Hỏa: 6,417 × 1023 kg. Ban đầu, công cụ hiển thị ví dụ hai quả cầu 10 kg cách nhau 2 m; nút “Trái Đất – Mặt Trăng” điền sẵn cả khối lượng lẫn khoảng cách 384.400 km cho bài tính thiên thể. Dữ liệu mặc định này không đại diện cho mọi bài toán. Chọn lại mục tự nhập sẽ xóa hai phần của khối lượng tương ứng.

Đầu vào và đầu ra của chế độ năng lượng

Độ cao phải được xác định so với một mốc cụ thể, chẳng hạn mặt đất hoặc sàn phòng. Ban đầu công cụ hiển thị ví dụ 50 kg, 10 m/s và 20 m với g = 9,81 m/s²; sửa bất kỳ số nào kết quả cũng cập nhật ngay. Cả khối lượng, vận tốc và độ cao đều cần có số, kể cả khi vận tốc hoặc độ cao bằng 0.

Thông số hoặc kết quả Đơn vị Cách hiểu
Khối lượng kg Không âm
Vận tốc m/s Được dùng để tính động năng; chấp nhận số âm
Độ cao so với mốc m Được dùng để tính thế năng; chấp nhận số âm
Gia tốc trọng trường m/s² Chọn 9,81; 10; 1,62 hoặc 3,71
Động năng, thế năng, tổng cơ năng J Hai thành phần năng lượng và tổng của chúng

Các lựa chọn gia tốc tương ứng với Trái Đất, Trái Đất làm tròn, Mặt Trăng và Sao Hỏa; lựa chọn ban đầu là 9,81 m/s². Nếu đề bài dùng gam, centimet hoặc km/h, bạn cần chuẩn bị số theo đơn vị yêu cầu. Bộ chuyển đổi đơn vị đo lường đa năng có thể hữu ích cho bước chuẩn bị này; không nên hiểu hai công cụ tự truyền dữ liệu cho nhau.

Ký hiệu khoa học, hằng số hấp dẫn G, gia tốc trọng trường g, động năng, thế năng trọng trường
Năm thuật ngữ cần hiểu khi tính lực hấp dẫn và cơ năng

Năm thuật ngữ cần hiểu khi tính lực hấp dẫn và cơ năng

Ký hiệu khoa học

Ký hiệu khoa học biểu diễn số dưới dạng a × 10n, giúp viết gọn các khối lượng rất lớn hoặc rất nhỏ. Trong dạng chuẩn, độ lớn hệ số nằm từ 1 đến dưới 10, nhưng công cụ không bắt buộc chuẩn hóa như vậy. Ví dụ, 10 × 100 vẫn có giá trị 10. Số mũ thể hiện lũy thừa của 10, không phải nhân hệ số với chính số mũ, và cũng không thay thế đơn vị đo.

Hằng số hấp dẫn G

Hằng số hấp dẫn G là hệ số trong định luật vạn vật hấp dẫn Newton, có đơn vị N·m²/kg². Công cụ dùng giá trị 6,67430 × 10−11 để liên hệ hai khối lượng, khoảng cách và lực hút. Đây không phải gia tốc tại bề mặt Trái Đất. Điểm dễ nhầm là hai ký hiệu G và g trông gần giống nhau, nhưng thay G bằng 9,81 hoặc 10 sẽ làm sai cả ý nghĩa vật lý lẫn đơn vị của công thức.

Gia tốc trọng trường g

Gia tốc trọng trường g mô tả gia tốc do trường hấp dẫn tại vị trí xét, đo bằng m/s². Trong công cụ, g là một giá trị được chọn để tính thế năng mgh và được giữ cố định trong bài tính. Về kiến thức nền, g có thể thay đổi theo vị trí, độ cao và thiên thể. Các lựa chọn sẵn không phải phép đo tại vị trí của bạn, cũng không được tự suy ra từ dữ liệu ở chế độ lực hấp dẫn.

Động năng

Động năng là năng lượng gắn với chuyển động của vật. Mô hình cổ điển được công cụ sử dụng tính động năng bằng một nửa khối lượng nhân bình phương vận tốc. Vì có bình phương, tăng độ lớn vận tốc gấp đôi làm động năng tăng bốn lần nếu giữ nguyên khối lượng. Vận tốc âm không làm động năng âm: dấu có thể biểu thị chiều chuyển động theo trục chọn. Động năng đo bằng J, không phải N như lực.

Thế năng trọng trường

Thế năng trọng trường là năng lượng gắn với vị trí của vật so với mốc trong trường trọng lực. Với g được coi là không đổi, công cụ dùng Wt = mgh. Giá trị phụ thuộc mốc độ cao: vật nằm dưới mốc có thể có thế năng âm. Điều đó không tự chứng tỏ dữ liệu sai. Cần phân biệt thế năng với lực hút, đồng thời không coi mgh là công thức tổng quát cho mọi khoảng cách trong trường hấp dẫn.

Công thức F = G m1 m2 / r2, động năng 1/2 mv2, thế năng mgh
Công thức tính lực hấp dẫn, động năng và thế năng

Công thức tính lực hấp dẫn, động năng và thế năng

Định luật vạn vật hấp dẫn Newton

Công thức được triển khai là F = G × m₁ × m₂ / r², với G = 6,67430 × 10−11 N·m²/kg². Hai khối lượng phải tính bằng kg, còn khoảng cách r phải tính bằng mét trước khi thay số.

Công cụ khôi phục mỗi số nhập bằng phép tính a × 10n. Nếu số mũ bỏ trống hoặc không đọc được thành số, nó được coi là 0. Nếu chọn km, khoảng cách được nhân với 1000 để đổi sang m. Sự đổi đơn vị này xảy ra trước phép bình phương khoảng cách.

Khi giữ các dữ liệu còn lại, tăng một khối lượng gấp đôi làm lực tăng gấp đôi. Tăng cả hai khối lượng gấp đôi làm lực tăng bốn lần. Ngược lại, khoảng cách tăng gấp đôi khiến lực giảm còn một phần tư, vì khoảng cách nằm dưới mẫu dưới dạng bình phương.

Ba công thức năng lượng được sử dụng

  • Động năng: Wđ = ½mv².
  • Thế năng trọng trường: Wt = mgh.
  • Tổng cơ năng: W = Wđ + Wt.

Giá trị g ở đây đến từ lựa chọn trong chế độ năng lượng, không tự liên thông với hai khối lượng và khoảng cách của chế độ hấp dẫn. Các công thức cho biết năng lượng tại bộ thông số nhập vào. Muốn đánh giá bảo toàn cơ năng, cần xét nhiều trạng thái và điều kiện tác dụng của lực, chứ không chỉ tính một tổng tại một thời điểm.

Cách làm tròn và đọc số trên kết quả

Lực bằng 0 được hiển thị là 0 N. Với lực từ 0,001 N đến dưới 1.000.000 N, công cụ dùng dạng số thông thường theo định dạng tiếng Việt, làm tròn đến bốn chữ số thập phân và bỏ các số 0 tận cùng. Lực ngoài khoảng đó dùng ký hiệu khoa học với hệ số viết bằng dấu phẩy thập phân, cũng làm tròn đến bốn chữ số thập phân.

Năng lượng được làm tròn riêng đến hai chữ số thập phân rồi định dạng theo tiếng Việt, không nhất thiết luôn hiện đủ hai chữ số. Tổng cơ năng được tính từ các thành phần chưa làm tròn. Vì thế, cộng hai số thành phần đã hiển thị đôi khi sẽ lệch nhẹ so với số tổng, do làm tròn chứ không phải do dùng công thức khác.

Ứng dụng máy tính lực hấp dẫn và năng lượng cho bài tập hai vật, thiên thể, động năng và thế năng
Có thể dùng công cụ cho những bài toán nào

Có thể dùng công cụ cho những bài toán nào?

Bài tập hai vật và các thiên thể

Công cụ phù hợp để kiểm tra phép tính lực hút khi đề bài đã cho hai khối lượng và khoảng cách. Với hai quả cầu đồng chất, không chồng lấn, mô hình có thể dùng khoảng cách giữa tâm để xét tương tác bên ngoài. Không nên thay khoảng cách này bằng khoảng hở bề mặt.

Bài tính giữa Trái Đất và Mặt Trăng có thể dùng nút “Trái Đất – Mặt Trăng” để điền sẵn cả khối lượng lẫn khoảng cách 384.400 km. Tuy nhiên, khoảng cách giữa hai thiên thể không phải một giá trị bất biến, nên vẫn cần đối chiếu với đề bài; công cụ không tự xác định vị trí hay khoảng cách thiên thể tại một thời điểm.

Bài tập động năng, thế năng theo mốc

Bạn có thể so sánh động năng khi đổi vận tốc nhưng giữ nguyên khối lượng, hoặc so sánh thế năng khi đổi độ cao nhưng giữ nguyên khối lượng và g. Việc giữ rõ các đại lượng còn lại giúp thấy đúng nguyên nhân làm kết quả thay đổi.

Khi đổi lựa chọn g để đối chiếu môi trường trọng lực, cần giữ cùng mốc và cùng các thông số khác nếu muốn so sánh có ý nghĩa. Kết quả chỉ thể hiện trạng thái giả định, không mô tả quá trình vật di chuyển giữa hai môi trường.

Khi bài toán hạt hoặc vật kéo dài cần thận trọng

Với electron hay proton, có thể tự nhập khối lượng để tính riêng thành phần hấp dẫn theo mô hình Newton. Không có dữ liệu hạt điền sẵn, phép tính lực điện hay mô tả đầy đủ vật lý vi mô trong chức năng.

Với đoạn dây hoặc vật kéo dài, công cụ không tích phân phân bố khối lượng. Chỉ nên dùng xấp xỉ chất điểm khi điều kiện bài toán cho phép. Nếu khoảng cách đến nguồn hấp dẫn thay đổi đáng kể dọc vật, một khoảng cách đại diện có thể không đủ để xác định lực tổng.

Ví dụ tính lực hấp dẫn hai quả cầu 10 kg và ba thành phần năng lượng
Ví dụ tính lực hấp dẫn và cơ năng có giải thích

Ví dụ tính lực hấp dẫn và cơ năng có giải thích

Các ví dụ dưới đây được tính theo công thức và quy tắc của công cụ.

Hai quả cầu giống nhau và ảnh hưởng của khoảng cách

Giả sử hai quả cầu đồng chất, không chồng lấn, mỗi quả có khối lượng 10 kg và cách nhau 2 m giữa hai tâm. Mỗi khối lượng có thể nhập với hệ số 10, số mũ 0; khoảng cách có hệ số 2, số mũ 0 và đơn vị m.

Thay số: F = 6,67430 × 10−11 × 10 × 10 / 2² = 1,668575 × 10−9 N. Vì lực nhỏ hơn 0,001 N, quy tắc hiển thị dùng ký hiệu khoa học. Hệ số sau làm tròn xuất hiện là 1,6686.

Giữ nguyên khối lượng nhưng tăng khoảng cách giữa tâm lên 4 m, ta có F = 6,67430 × 10−11 × 100 / 16 = 4,1714375 × 10−10 N. Hệ số hiển thị là 4.1714. Trước khi làm tròn, lực mới bằng đúng một phần tư lực tại 2 m, minh họa quy luật nghịch đảo bình phương.

Tính ba thành phần năng lượng

Giả sử vật có khối lượng 50 kg, vận tốc 10 m/s và độ cao 20 m so với mốc đã chọn. Chọn g = 9,81 m/s² và coi giá trị này không đổi trong bài tính.

  • Wđ = ½ × 50 × 10² = 2.500 J.
  • Wt = 50 × 9,81 × 20 = 9.810 J.
  • W = 2.500 + 9.810 = 12.310 J.

Trong các kết quả năng lượng này, dấu chấm phân cách hàng nghìn: 2.500 J nghĩa là hai nghìn năm trăm joule. Cách đọc này thống nhất với dấu phẩy thập phân trong hệ số lực 1,6686. Tổng 12.310 J mô tả cơ năng tại trạng thái giả định, chưa nói gì về trạng thái trước hoặc sau đó.

Độ cao âm và dữ liệu không hợp lệ

Xét vật có m = 2 kg, v = −3 m/s, h = −5 m và chọn g = 10 m/s². Khi đó Wđ = ½ × 2 × (−3)² = 9 J; Wt = 2 × 10 × (−5) = −100 J; tổng W = 9 − 100 = −91 J. Động năng vẫn dương, còn thế năng âm do vật nằm dưới mốc.

Ở chế độ hấp dẫn, nếu nhập hai khối lượng 10 kg nhưng khoảng cách bằng 0 m, công cụ hiện cảnh báo và ẩn kết quả cũ, không tạo kết quả lực mới cho bộ dữ liệu vừa nhập.

Lực hấp dẫn, trọng lực và thế năng khác nhau thế nào?

Lực giữa hai vật và trọng lực gần bề mặt

Lực hấp dẫn giữa hai vật và trọng lực gần bề mặt có liên quan nhưng cách mô tả dữ liệu khác nhau. Công thức trọng lực P ≈ mg dưới đây là kiến thức nền, không phải một chế độ đầu ra riêng được công cụ triển khai.

Đại lượng Công thức, đơn vị Dữ liệu và phạm vi
Lực hấp dẫn giữa hai vật Gm₁m₂/r², N Hai khối lượng và khoảng cách; mô hình Newton phù hợp
Trọng lực gần bề mặt P ≈ mg, N Khối lượng và gia tốc trọng trường tại nơi xét
Thế năng trọng trường mgh, J Khối lượng, g cố định và độ cao so với mốc

Một giá trị tính bằng J không thể đọc thành lực tác dụng tính bằng N. Năng lượng và lực là hai đại lượng khác nhau, dù chúng cùng xuất hiện trong bài toán chuyển động dưới tác dụng của trọng lực.

Thế năng mgh và thế năng hấp dẫn tổng quát

Biểu thức mgh phù hợp khi trường trọng lực được coi là gần như đều. Công thức thế năng hấp dẫn −Gm₁m₂/r, với mốc ở vô cực, là kiến thức nền cho mô hình hai vật; công cụ không triển khai công thức này.

Độ cao h so với mốc không đồng nhất với khoảng cách r giữa tâm hai vật. Ví dụ, độ cao trên mặt đất không phải khoảng cách đến tâm Trái Đất. Vì vậy, không nên chuyển một số từ chế độ này sang chế độ khác mà bỏ qua mốc, hình học và giả định của bài toán.

Giới hạn của máy tính lực hấp dẫn và năng lượng: mô hình Newton, g cố định, cảnh báo ẩn kết quả cũ
Giới hạn mô hình và những lưu ý khi đọc kết quả

Giới hạn mô hình và những lưu ý khi đọc kết quả

Công cụ tính lực theo mô hình Newton và năng lượng với g cố định được chọn. Nó không giải quỹ đạo, tổng hợp lực từ nhiều vật, tính hao hụt do ma sát hoặc tự xử lý phân bố khối lượng phức tạp. Việc một bộ dữ liệu được chấp nhận chưa bảo đảm mô hình phù hợp với tình huống thực tế.

Các khối lượng thiên thể điền nhanh và lựa chọn g là những giá trị cố định đã triển khai. Không nên coi chúng là dữ liệu chính xác cho mọi địa điểm, độ cao hay thời điểm, hoặc là các giá trị được cập nhật tự động.

Số chữ số hiển thị không phải độ chính xác vật lý. Công cụ không đánh giá sai số đo hay độ không đảm bảo của đầu vào. Với số quá lớn hoặc kết quả không hữu hạn, công cụ hiện cảnh báo thay vì một con số.

Khi xuất hiện cảnh báo, kết quả cũ được ẩn đi; chỉ diễn giải số khi không còn cảnh báo. Ngoài ra, chưa có cơ sở xác minh chính sách lưu trữ, theo dõi hay mọi yêu cầu mạng của toàn website, nên không thể khẳng định dữ liệu chỉ được xử lý cục bộ hoặc không được lưu.

Câu hỏi thường gặp

Bỏ trống số mũ khi nhập khối lượng hoặc khoảng cách có tính được không?

Có, nếu phần hệ số đã được nhập thành số, số mũ bỏ trống được coi là 0. Khi đó giá trị bằng hệ số nhân 100, tức bằng chính hệ số. Tuy nhiên, bạn vẫn phải kiểm tra đơn vị: hệ số khoảng cách 2 với đơn vị km nghĩa là 2 km, không phải 2 m. Bỏ trống hệ số thì khác; công cụ cảnh báo thiếu dữ liệu. Với số rất lớn hoặc nhỏ, quên số mũ có thể làm bài tính sai nhiều bậc độ lớn.

Với hai quả cầu, phải nhập khoảng cách giữa tâm hay khoảng cách giữa hai bề mặt?

Phải nhập khoảng cách giữa hai tâm khi dùng mô hình hai quả cầu phù hợp. Nếu đề chỉ cho khoảng hở bề mặt, cần cộng khoảng hở đó với bán kính của cả hai quả cầu để có khoảng cách giữa tâm. Hai quả cầu giống nhau thì cộng hai lần bán kính. Cách áp dụng này dựa trên giả định khối cầu đối xứng và không chồng lấn; công cụ không tự nhận biết hình dạng, bán kính hay kiểm tra những điều kiện vật lý ấy.

Khi tính giữa Trái Đất và Mặt Trăng, công cụ có điền sẵn khoảng cách không?

Có phím tắt: nút “Trái Đất – Mặt Trăng” điền sẵn khối lượng hai thiên thể và khoảng cách 384.400 km. Tuy vậy, khoảng cách giữa hai thiên thể không phải một giá trị bất biến, nên vẫn cần đối chiếu với giá trị mà đề bài quy định trước khi dùng kết quả. Không nên hiểu việc chọn tên thiên thể là công cụ đã xác định toàn bộ điều kiện của bài tính.

Nên chọn g = 9,81 hay g = 10 m/s²?

Nên chọn theo giả định của đề bài. Nếu đề yêu cầu làm tròn g = 10 m/s², hãy dùng lựa chọn đó để kết quả nhất quán; nếu đề cho g = 9,81 m/s², dùng đúng giá trị đã cho. Không có lựa chọn nào luôn đúng cho mọi vị trí và tình huống. Trong công cụ, thay g làm thay đổi thế năng và tổng cơ năng, nhưng không thay đổi động năng khi khối lượng và vận tốc được giữ nguyên. Đây là hai mức giả định, không phải hai chế độ chính xác được chứng nhận.

Vì sao thế năng và tổng cơ năng có thể âm?

Vì thế năng được tính so với mốc độ cao bạn chọn. Khi vật ở dưới mốc, h âm và mgh có thể âm. Nếu độ lớn thế năng âm vượt động năng dương, tổng cơ năng cũng âm. Điều này không có nghĩa vật có động năng âm hay công cụ nhất thiết tính sai. Đổi mốc sẽ thay đổi giá trị thế năng và cơ năng; khi so sánh các trạng thái, cần dùng cùng mốc để tránh diễn giải một thay đổi quy ước thành thay đổi vật lý.

Công cụ có tự kiểm tra bài toán bảo toàn cơ năng không?

Không. Công cụ chỉ tính động năng, thế năng và tổng của chúng từ một trạng thái đã nhập. Để kiểm tra bảo toàn cơ năng, bạn cần xét các trạng thái khác nhau với cùng quy ước mốc, đồng thời biết điều kiện tác dụng của lực. Ma sát hoặc công của các lực khác có thể làm cơ năng thay đổi. Bạn có thể dùng các kết quả để hỗ trợ đối chiếu, nhưng việc thấy một giá trị tổng không tự chứng minh rằng tổng đó giữ nguyên trong quá trình chuyển động.

Vì sao khi có cảnh báo dữ liệu lỗi thì không còn số kết quả?

Vì khi phát hiện dữ liệu không hợp lệ, công cụ hiển thị cảnh báo và ẩn các số của lần tính trước, nên dưới cảnh báo không còn con số nào để chép nhầm. Bạn nên rà lại dữ liệu bắt buộc, đơn vị, dấu của khối lượng và điều kiện khoảng cách dương, rồi nhập lại dữ liệu hợp lệ.

Bình luận vui vẻ - Yêu cầu nâng cấp