Chuyển đổi file sang Base64 – Base64 file converter

Trang chủ / Công cụ / Coding / Chuyển đổi file sang Base64 – Base64 file converter
★ 4.8/5 | 156 đánh giá
▼
Đánh giá công cụ:
★ ★ ★ ★ ★
Chuyển đổi file sang Base64 – Base64 file converter

Trình chuyển đổi File sang Base64 siêu tốc. Hỗ trợ mã hóa hình ảnh, tài liệu thành Data URI hoặc Base64 thuần.

📁 Chuyển Đổi File Sang Base64

Mã hóa hình ảnh, tài liệu (PDF, DOCX), font chữ thành chuỗi Base64 để nhúng trực tiếp vào HTML/CSS hoặc gửi qua API.

🛡️
BẢO MẬT & TỐC ĐỘ: File của bạn KHÔNG bị tải lên bất kỳ máy chủ nào. Thuật toán của chúng tôi xử lý chuyển đổi trực tiếp trên thanh RAM trình duyệt của bạn!

📥 Chọn File (Tối đa 5MB)

📂
Kéo thả file vào đây
hoặc

🚀 Kết Quả Base64

Chờ chọn file...
Vui lòng upload một file để xem chuỗi mã hóa.
Hướng dẫn nhanh ⏱ Thời gian: 30 giây

Hướng dẫn sử dụng Chuyển đổi file sang Base64

Thực hiện theo 3 bước dưới đây để chuyển đổi file sang Base64 và sao chép kết quả phù hợp với nhu cầu.

Bước1

Chọn file cần chuyển đổi

Nhấn “Duyệt File Lên” để chọn một file trên thiết bị, hoặc kéo file vào vùng “Kéo thả file vào đây”. Công cụ tự động mã hóa ngay sau khi chọn.

💡 Mẹo: Nên chọn file không quá 5MB; file lớn hơn vẫn được xử lý nhưng có thể khiến trình duyệt chậm.
Bước2

Kiểm tra thông tin và kết quả

Kiểm tra “Tên file”, “Kích thước” và “Định dạng (MIME)”. Chờ trạng thái “Đã mã hóa”, rồi xem hai chuỗi trong phần “Kết Quả Base64”.

💡 Mẹo: File được xử lý trực tiếp trên trình duyệt, không tải lên máy chủ.
Bước3

Sao chép chuỗi phù hợp

Nhấn “COPY KÈM TIỀN TỐ (DATA:MIME...)” để lấy chuỗi Data URI, hoặc “COPY BASE64 THUẦN (RAW)” để lấy chuỗi thuần. Nút hiện “ĐÃ COPY VÀO BỘ NHỚ TẠM” khi sao chép thành công.

Nội Dung

Công cụ chuyển đổi file sang Base64 là gì?

Công cụ chuyển đổi file sang Base64 là tiện ích chuyển nội dung byte của một file thành chuỗi văn bản Base64. Thay vì mang dữ liệu dưới dạng file đính kèm, bạn có thể dùng chuỗi này trong những nơi yêu cầu dữ liệu văn bản, chẳng hạn một trường của JSON hoặc một ngữ cảnh hỗ trợ nhúng dữ liệu trực tiếp.

Theo mã nguồn được cung cấp, công cụ nhận file qua thao tác chọn hoặc kéo thả, đọc nội dung bằng API của trình duyệt rồi hiển thị hai kết quả: Data URI đầy đủ và Base64 thuần. Giao diện còn hiển thị tên file, dung lượng, loại nội dung MIME và trạng thái xử lý. Mỗi dạng kết quả có chức năng sao chép riêng để người dùng lấy đúng chuỗi cần dùng.

Đây là thay đổi cách biểu diễn dữ liệu, không phải thay đổi bản chất file. Một tài liệu PDF được biểu diễn bằng Base64 vẫn chứa dữ liệu của PDF; công cụ không chuyển nó thành ảnh, không đổi thành tài liệu Word và không nén nội dung. Dù giao diện dùng từ “mã hóa”, thao tác này cũng không tạo mật khẩu hay bảo vệ dữ liệu bằng cơ chế mật mã.

Điều quan trọng khi sử dụng là hiểu nơi nhận cần dạng nào và kết quả mang theo thông tin gì. Các phần dưới giải thích đầu vào, quy tắc chuyển đổi và giới hạn sử dụng, thay vì lặp lại những thao tác chọn file, nhấn nút đã thể hiện trên giao diện.

Các thuật ngữ cần biết khi chuyển file sang Base64

Base64

Base64 là cách biểu diễn dữ liệu byte bằng một tập ký tự văn bản theo quy tắc công khai. Theo kiến thức nền của chuẩn này, ba byte thường tạo thành bốn ký tự đầu ra. Nhờ đó, nội dung nhị phân có thể nằm trong trường văn bản. Base64 không phải nén hay mã hóa bảo mật: người có chuỗi có thể giải mã để khôi phục dữ liệu. Đây là tính chất của Base64, không có nghĩa công cụ đang có chức năng giải mã.

Data URI

Data URI là cách đặt dữ liệu trực tiếp trong một URI thay vì chỉ trỏ tới tài nguyên ở địa chỉ khác. Dạng dùng Base64 thường có tiền tố mô tả loại nội dung, dấu hiệu base64 và dữ liệu sau dấu phẩy. Ví dụ, tiền tố data:image/png;base64, mô tả dữ liệu ảnh PNG. Data URI không phải URL của file đã tải lên máy chủ, và chỉ dùng được ở những nơi chấp nhận dạng URI này.

MIME

MIME là nhãn mô tả loại nội dung, chẳng hạn text/plain cho văn bản thuần hoặc image/png cho ảnh PNG. Công cụ hiển thị MIME do trình duyệt cung cấp, không tự kiểm định cấu trúc file. Nhãn này giúp nơi nhận biết cách diễn giải dữ liệu nhưng không chứng minh nội dung thực sự hợp lệ. MIME cũng không đồng nhất với phần mở rộng: đổi tên file không tự biến dữ liệu bên trong thành định dạng mới.

Byte, KB và MiB

Byte là đơn vị đo lượng dữ liệu của file. Theo cách phân biệt đơn vị thông dụng, KB thập phân là 1.000 byte, còn KiB là 1.024 byte và MiB là 1.048.576 byte. Công cụ tính theo cơ số 1024 nhưng ghi nhãn KB, MB trên giao diện. Vì vậy, “5 MB” tại đây tương ứng 5 MiB trong cách gọi chính xác. Dung lượng file gốc cần được phân biệt với số ký tự của chuỗi Base64 sau chuyển đổi.

Ký tự đệm Base64

Ký tự đệm Base64 là dấu bằng = ở cuối một số chuỗi Base64 chuẩn. Nó hoàn tất nhóm bốn ký tự khi số byte đầu vào không chia hết cho ba. Chẳng hạn, một byte có thể tạo chuỗi kết thúc bằng hai dấu bằng. Đây không phải lỗi, khoảng trống hay phần trang trí. Không nên tự xóa ký tự đệm trừ khi tài liệu của nơi nhận quy định rõ dạng Base64 không có đệm và cách xử lý tương ứng.

Đầu vào và hai dạng kết quả của công cụ

File và thông tin đi kèm

Đầu vào là một file mà trình duyệt có thể truy cập qua lựa chọn của người dùng hoặc thao tác kéo thả, không phải đoạn văn bản dán vào ô nhập. Phần xử lý được cung cấp không lọc phần mở rộng hay giới hạn danh sách MIME được phép. Điều này không đồng nghĩa công cụ xác nhận mọi file đều hợp lệ hoặc nơi nhận đều sử dụng được chúng.

Tên, dung lượng và MIME được hiển thị từ thông tin của file. Nếu MIME trống, vùng thông tin hiện unknown/binary. Đây chỉ là nhãn thay thế để người dùng biết thiếu thông tin, không phải loại nội dung đã được xác minh.

Data URI và Base64 thuần

Data URI giữ kết quả đầy đủ mà trình duyệt tạo ra, gồm tiền tố và phần dữ liệu. Base64 thuần là phần sau dấu phẩy, biểu diễn nội dung byte nhưng không tự mang tên file. Nếu cần tên hoặc loại nội dung riêng, hệ thống nhận phải có cách tiếp nhận những thông tin đó.

Hãy chọn theo yêu cầu cụ thể: trường API yêu cầu Base64 thuần thì không tự thêm tiền tố; vị trí yêu cầu URI dữ liệu thì dùng dạng đầy đủ. Nhãn thay thế MIME trên giao diện không được dùng để tự dựng hay sửa tiền tố Data URI.

Hiểu đúng trạng thái kết quả

Trạng thái hoàn thành cho biết file đã được đọc và kết quả đã được đưa lên giao diện. Nó không xác nhận ảnh sẽ hiển thị, tài liệu sẽ mở được hay API sẽ chấp nhận dữ liệu. Tương tự, thông báo sao chép thành công chỉ xác nhận thao tác ghi chuỗi vào clipboard hoàn tất; công cụ không vì thế gửi nội dung tới hệ thống khác.

Quy tắc chuyển đổi, dung lượng và cảnh báo

Từ nội dung file đến hai chuỗi kết quả

Công cụ cập nhật thông tin file rồi chuyển sang trạng thái đang xử lý, đồng thời ẩn vùng kết quả. File được đọc bằng FileReader của trình duyệt dưới dạng Data URI. Khi đọc thành công, công cụ giữ nguyên chuỗi đầy đủ và tách phần sau dấu phẩy làm Base64 thuần. Hai dạng được đưa vào các ô chỉ đọc.

Nếu việc đọc thất bại, giao diện thông báo lỗi đọc file thay vì hiển thị kết quả mới. Việc sao chép dùng Clipboard API; khả năng thực hiện phụ thuộc hỗ trợ, quyền và điều kiện hoạt động của trình duyệt. Nếu ô kết quả không có nội dung, thao tác sao chép không tiếp tục.

Vì sao Base64 dài hơn dữ liệu gốc?

Theo quy tắc Base64 chuẩn, với n byte đầu vào, độ dài chuỗi thuần là 4 × ceil(n / 3) ký tự. Trong đó, ceil nghĩa là làm tròn lên đến số nguyên. Đây là công thức nền để hiểu đầu ra; công cụ không có bảng tính độ dài riêng trên giao diện.

Với dữ liệu lớn, số ký tự thường tăng gần một phần ba so với số byte gốc. Với file rất nhỏ, tác động của nhóm bốn ký tự và ký tự đệm rõ hơn: một byte vẫn cần bốn ký tự. Data URI còn dài hơn vì có thêm tiền tố. Số ký tự không phải phép đo toàn bộ bộ nhớ trình duyệt sử dụng trong lúc xử lý.

Ngưỡng cảnh báo không phải giới hạn từ chối

Dung lượng hiển thị được tính theo cơ số 1024, chọn đơn vị theo độ lớn, làm tròn tối đa hai chữ số thập phân rồi bỏ số 0 thừa. File rỗng được hiển thị là 0 Bytes. Việc làm tròn có thể khiến hai file khác nhau hiện cùng một dung lượng.

Ngưỡng cảnh báo chính xác là 5 × 1024 × 1024 = 5.242.880 byte. Chỉ file lớn hơn ngưỡng mới bật cảnh báo; bằng ngưỡng thì không. Dù giao diện ghi “Tối đa 5MB”, phần xử lý không từ chối file vượt mức này mà vẫn tiếp tục đọc. Không nên hiểu điều đó là bảo đảm mọi file lớn đều xử lý thành công.

Khi nào nên dùng file dưới dạng Base64?

Nhúng tài nguyên nhỏ bằng Data URI

Một ứng dụng phổ biến của Data URI là đặt tài nguyên nhỏ trực tiếp vào ngữ cảnh HTML hoặc CSS có hỗ trợ URI dữ liệu. Ví dụ, một vị trí nhận nguồn ảnh có thể sử dụng Data URI ảnh nếu môi trường cho phép. Đây là kiến thức nền về cách dùng kết quả, không phải chức năng công cụ tự tạo đoạn mã nhúng hoàn chỉnh.

Cách này có thể phù hợp khi muốn nội dung đi cùng phần văn bản chứa nó. Tuy nhiên, không phải mọi vị trí nhận URL đều cho phép Data URI; chính sách của trang hoặc ứng dụng có thể hạn chế. Với tài nguyên lớn, chuỗi dài làm nội dung chứa nó khó quản lý hơn. Cần cân nhắc yêu cầu của môi trường đích thay vì cho rằng nhúng trực tiếp luôn tốt hơn.

Đưa nội dung file vào dữ liệu văn bản

Base64 thuần hữu ích khi tài liệu API quy định nội dung file phải nằm trong một trường văn bản của JSON hoặc thông điệp tương tự. Nếu bên nhận còn yêu cầu tên file và MIME, những thông tin đó thường cần nằm ở trường riêng theo cấu trúc được quy định; chúng không tự xuất hiện trong chuỗi thuần.

Nếu hệ thống đã có cơ chế tải file trực tiếp, việc đổi sang Base64 có thể không cần thiết và làm biểu diễn dữ liệu dài hơn. Công cụ này chỉ tạo chuỗi để bạn đưa sang nơi khác. Trong mã được cung cấp, không có chức năng tự gửi API, tải tài nguyên lên máy chủ hay kiểm tra sự chấp nhận của hệ thống nhận.

Base64 khác gì mã hóa bảo mật và gửi file trực tiếp?

Biểu diễn dữ liệu không phải bảo vệ dữ liệu

Encode là đổi cách biểu diễn dữ liệu theo một quy tắc; Base64 thuộc nhóm này. Encrypt là mã hóa bằng cơ chế mật mã nhằm bảo vệ nội dung, thường liên quan đến khóa. Một chuỗi Base64 nhìn khó đọc không có nghĩa nội dung đã được giữ bí mật: quy tắc khôi phục là công khai và không cần mật khẩu.

Base64 cũng khác hash, hay hàm băm. Hàm băm tạo giá trị đại diện để phục vụ các mục đích như đối chiếu dữ liệu, không phải biểu diễn chứa toàn bộ file để giải mã ngược theo cách Base64. Vì vậy, kết quả ở đây không nên được hiểu là chữ ký, bằng chứng xác thực hay dấu kiểm tra tính toàn vẹn.

Dữ liệu nhị phân và trường văn bản

Gửi file trực tiếp thường chuyển nội dung nhị phân qua cơ chế mà hệ thống nhận hỗ trợ. Đặt Base64 trong trường văn bản là một cách vận chuyển khác, có thêm bước biểu diễn và khôi phục. Cách nào hợp lệ do giao thức và tài liệu của bên nhận quyết định; không thể thay thế tùy ý chỉ vì hai cách đều chứa dữ liệu file.

Chuyển file cũng khác chuyển chuỗi văn bản: file đã có byte cụ thể, còn chuỗi cần quy tắc mã ký tự để biến thành byte. Nếu bạn đang xử lý văn bản thay vì file, chủ đề mã hóa và giải mã chuỗi Base64 liên quan hơn. Đây là bài toán liên quan, không phải sự tích hợp tự động giữa hai công cụ.

Ví dụ đọc kết quả và kiểm tra ngưỡng dung lượng

Các ví dụ sau được suy ra từ logic trong mã nguồn và quy tắc của API trình duyệt, không phải báo cáo chạy thử. Giả định về byte, MIME và nội dung bổ sung rất quan trọng: một ký tự xuống dòng hoặc dấu BOM cũng làm dữ liệu đầu vào thay đổi.

File ba byte không cần ký tự đệm

Giả sử file có đúng ba byte ASCII biểu diễn ABC, MIME là text/plain, không có BOM và không có xuống dòng. Dung lượng hiển thị là 3 Bytes; Base64 thuần là QUJD; Data URI đầy đủ là data:text/plain;base64,QUJD.

Ba byte tạo đúng một nhóm bốn ký tự nên không cần dấu bằng ở cuối. File này không vượt ngưỡng cảnh báo. Khi dùng kết quả, QUJD phù hợp với trường yêu cầu dữ liệu thuần, còn chuỗi có tiền tố dành cho ngữ cảnh nhận Data URI.

File một byte có ký tự đệm

Giả sử file chỉ có một byte ASCII biểu diễn M, MIME vẫn là text/plain, không có BOM hoặc xuống dòng. Theo cách ghép nhãn của công cụ, dung lượng hiện 1 Bytes. Base64 thuần là TQ== và Data URI là data:text/plain;base64,TQ==.

Hai dấu bằng hoàn tất nhóm bốn ký tự của Base64 chuẩn, không phải dấu hiệu đọc file sai. Ví dụ này cũng cho thấy file nhỏ không tăng theo tỷ lệ gần một phần ba: một byte đầu vào vẫn tạo bốn ký tự đầu ra.

Hai file cùng hiện 5 MB nhưng cảnh báo khác nhau

Xét hai file có kích thước lần lượt 5.242.880 byte và 5.242.881 byte. Sau phép chia theo đơn vị và làm tròn, cả hai đều hiển thị 5 MB. Tuy nhiên, file thứ nhất không bật cảnh báo, còn file thứ hai bật cảnh báo vì vượt ngưỡng đúng một byte. Cả hai vẫn được đưa vào quá trình đọc.

Chỉ biết kích thước không đủ để viết chuỗi Base64 cụ thể của chúng. Cùng nội dung byte sẽ cho cùng Base64 thuần; tiền tố Data URI còn liên quan đến MIME, và khả năng sử dụng kết quả vẫn phụ thuộc nơi nhận.

Giới hạn thực tế và lưu ý về dữ liệu nhạy cảm

File lớn và điều kiện trình duyệt

Công cụ đọc toàn bộ file rồi hiển thị các chuỗi dài, nên file lớn có thể tăng mức sử dụng bộ nhớ, làm giao diện chậm hoặc khiến sao chép khó thực hiện. Không có căn cứ để đặt một dung lượng tối đa ổn định cho mọi thiết bị. Giao diện cũng không cung cấp tiến độ phần trăm hay chức năng hủy đọc.

Mỗi lần chỉ file đầu tiên được xử lý; mã được cung cấp không có chuyển đổi hàng loạt, tải xuống file kết quả hay giải mã trở lại file. Khi chọn liên tiếp trước lúc đọc xong, không có cơ chế điều phối rõ ràng giữa các lần đọc. Bạn nên chờ hoàn tất và kiểm tra thông tin file trước khi dùng kết quả.

Phạm vi xác minh về quyền riêng tư

Đoạn xử lý được cung cấp đọc file bằng API trình duyệt. Tuy nhiên, bằng chứng này không đủ để cam kết toàn bộ trang không truyền hoặc lưu dữ liệu: các thành phần khác và chính sách triển khai chưa được xác minh. Việc đọc trong trình duyệt cũng không chứng minh trang luôn hoạt động khi mất mạng.

Với dữ liệu nhạy cảm, cần cân nhắc cả việc chọn file, sao chép và chia sẻ chuỗi. Base64 không che giấu nội dung, còn clipboard chứa một bản sao của kết quả sau khi sao chép. Không nên coi thông báo bảo mật trên giao diện là bảo đảm tuyệt đối cho toàn bộ môi trường sử dụng.

Câu hỏi thường gặp

File lớn hơn 5MB có bị công cụ từ chối không?

Không bị từ chối chỉ vì vượt ngưỡng trong phần xử lý được cung cấp. Điều kiện thực tế là bật cảnh báo khi kích thước lớn hơn 5.242.880 byte, rồi vẫn đọc file. Vì vậy, dòng “Tối đa 5MB” không phản ánh một giới hạn chặn trong logic. Tuy nhiên, khả năng hoàn tất còn phụ thuộc bộ nhớ, trình duyệt và thiết bị; việc không bị chặn không bảo đảm file lớn sẽ luôn tạo hoặc sao chép kết quả thành công.

Tôi nên sao chép Data URI hay Base64 thuần để gửi cho API?

Hãy chọn dạng mà tài liệu API yêu cầu, không chọn chỉ theo tên nút. Nếu trường nhận Base64 thuần, tiền tố Data URI có thể làm dữ liệu bị từ chối. Nếu trường nhận URI dữ liệu, bỏ tiền tố lại có thể thiếu thông tin cần thiết. Ngoài dạng chuỗi, API còn có thể yêu cầu MIME, tên file, giới hạn kích thước hoặc định dạng nội dung cụ thể. Công cụ không kiểm tra những yêu cầu riêng đó thay cho hệ thống nhận.

Vì sao chuỗi Base64 dài hơn file gốc?

Vì Base64 biểu diễn dữ liệu bằng nhóm ký tự văn bản thay vì giữ nguyên dạng byte. Theo chuẩn, n byte tạo 4 × ceil(n / 3) ký tự, nên dữ liệu lớn thường có số ký tự tăng gần một phần ba so với số byte ban đầu. File nhỏ chịu ảnh hưởng tỷ lệ lớn hơn do phải hoàn tất nhóm ký tự. Nếu dùng Data URI, tiền tố cũng góp thêm độ dài. Đây không phải dấu hiệu công cụ chèn thêm nội dung vào file gốc.

Dấu bằng ở cuối Base64 có cần xóa không?

Thông thường không nên xóa. Dấu bằng là ký tự đệm hợp lệ của Base64 chuẩn và có thể cần thiết để nơi nhận diễn giải đúng nhóm dữ liệu cuối. Một số hệ thống có quy định riêng cho chuỗi không đệm, nhưng phải dựa vào tài liệu của hệ thống đó, không suy từ việc chuỗi nhìn gọn hơn. Công cụ giữ kết quả do trình duyệt tạo ra, không cung cấp chế độ tự chuyển sang dạng không đệm trong mã được cung cấp.

Vì sao có kết quả nhưng thao tác sao chép vẫn báo lỗi?

Vì đọc file và ghi clipboard là hai thao tác khác nhau. Kết quả có thể đã được tạo thành công nhưng Clipboard API vẫn không thực hiện được do điều kiện hoạt động, quyền hoặc mức hỗ trợ của trình duyệt. Với chuỗi rất dài, khả năng sao chép thực tế trên từng thiết bị cũng chưa được xác minh. Thông báo lỗi sao chép không tự chứng minh Base64 sai; nó chỉ cho biết thao tác đưa chuỗi vào bộ nhớ tạm chưa hoàn tất.

Kéo thả nhiều file có chuyển đổi tất cả cùng lúc không?

Không. Khi danh sách kéo thả có nhiều file, phần xử lý chỉ lấy file đầu tiên của danh sách để đọc. Không có kết quả riêng cho từng file hoặc thao tác gộp nhiều file trong mã được cung cấp. Bạn nên xử lý lần lượt và chờ lần trước hoàn tất trước khi chọn file tiếp theo. Cách này cũng giúp tránh nhầm giữa thông tin file đang hiển thị và chuỗi cần sử dụng khi các lần đọc diễn ra sát nhau.

Có thể khẳng định file nhạy cảm không bị gửi hoặc lưu ở đâu khác không?

Không thể khẳng định cho toàn bộ trang chỉ từ đoạn mã này. Có thể xác nhận phần chuyển đổi được cung cấp dùng API trình duyệt để đọc file, nhưng chưa xác minh các thành phần khác, cơ chế ghi nhận dữ liệu hay chính sách lưu trữ của môi trường triển khai. Ngoài ra, việc sao chép tạo bản sao trong clipboard, còn dán vào ứng dụng khác đưa dữ liệu sang môi trường mới. Với file nhạy cảm, cần đánh giá cả nơi chuyển đổi lẫn nơi sử dụng chuỗi kết quả.

23 bình luận

  • Phạm Văn Tuấn

    Làm frontend gặp chỗ cần nhúng ảnh Base64 thì có công cụ này tiện thật.

  • Dương Tuấn Linh

    Ước gì giới hạn được nâng lên 10MB, nhiều file tài liệu của mình vượt 5MB một chút.

  • Trần Bảo Quyên

    Công cụ này có chuyển được file PDF sang Base64 không hay chỉ hỗ trợ ảnh?

  • Trần Thị Phúc

    xịn á, vừa thử file nhỏ thấy ra kết quả nhanh ghê, khỏi mò code encode nữa :))

  • Đỗ Quốc Quang

    Dùng trên điện thoại thì phần kết quả hơi khó đọc vì chuỗi dài. Nếu có nút thu gọn hoặc sao chép nhanh sẽ dễ dùng hơn.

  • Huỳnh Tuấn Quyên

    Nếu chuỗi kết quả có thêm tiền tố data: theo đúng loại file thì sẽ tiện hơn khi nhúng vào HTML.

  • Hồ Thị Quang

    Numeronym generator nghe lạ quá, mình bấm xem thử từ phần công cụ tương tự rồi mới quay lại chuyển file, cũng thú vị.

  • Hồ Minh Quang

    Mình thích kiểu công cụ chỉ tập trung vào một việc như thế này, không phải cài thêm phần mềm.

  • Nguyễn Hải Thủy

    Mục IBAN validator and parser bên dưới hữu ích, nhưng mình nghĩ nên tách phần công cụ liên quan rõ hơn để khỏi nhầm với chức năng chuyển file.

  • Bùi Thị Thành

    Tên chức năng rõ ràng, phần Chọn File còn ghi sẵn tối đa 5MB nên không phải đoán giới hạn.

Bình luận vui vẻ - Yêu cầu nâng cấp