Trình tạo cặp khóa RSA – RSA key pair generator

Trang chủ / Công cụ / Mã hóa & Bảo mật / Trình tạo cặp khóa RSA – RSA key pair generator
★ 4.8/5 | 156 đánh giá
▼
Đánh giá công cụ:
★ ★ ★ ★ ★

Trình tạo cặp khóa RSA (Public/Private Key) siêu tốc. Hỗ trợ chuẩn 2048-bit và 4096-bit, xử lý an toàn 100% bảo mật tuyệt đối.

🔐 Trình Tạo Cặp Khóa RSA

Tạo Public Key và Private Key chuẩn RSA bảo mật cao. Quá trình sinh khóa diễn ra 100% trên thiết bị của bạn thông qua Web Crypto API.

🛡️
RIÊNG TƯ TUYỆT ĐỐI: Công cụ này không lưu trữ hay gửi bất kỳ khóa nào của bạn lên máy chủ. Private Key là tài sản vô giá, tuyệt đối không chia sẻ cho bất kỳ ai!

⚙️ Cấu Hình Khóa (Settings)

Lưu ý: Khóa 4096-bit có thể mất vài giây để máy tính xử lý.

💡 Thông tin kỹ thuật:

  • Thuật toán: RSA-OAEP
  • Hash: SHA-256
  • Định dạng: PEM (Base64 ASCII)
  • PKCS: PKCS#8 (Private), SPKI (Public)

🌍 Public Key

Chia sẻ thoải mái

🛑 Private Key

Bảo mật tuyệt đối

Table of Contents

Trình tạo cặp khóa RSA là gì?

Trình tạo cặp khóa RSA là công cụ tạo ra hai khóa có quan hệ toán học với nhau: khóa công khai và khóa riêng. Trong cách sử dụng RSA để mã hóa, bên gửi dùng khóa công khai của bên nhận để bảo vệ thông tin; bên nhận dùng khóa riêng tương ứng để giải mã. Hai khóa không phải hai mật khẩu được chọn độc lập, và khóa riêng của một cặp không thể tùy ý thay bằng khóa riêng thuộc cặp khác.

Với công cụ này, chức năng được mã nguồn xác nhận là yêu cầu trình duyệt tạo cặp khóa theo cấu hình RSA-OAEP với SHA-256, sau đó xuất cả hai thành văn bản PEM. Người dùng có thể lấy nội dung từng khóa bằng cách sao chép hoặc tải xuống. Công cụ không có trường nhập thông điệp và không thực hiện mã hóa, giải mã, ký số hay xác minh chữ ký trên giao diện được cung cấp.

Nhu cầu được giải quyết ở đây là chuẩn bị vật liệu khóa cho học tập, thử nghiệm hoặc một hệ thống có yêu cầu tương thích. Kết quả không phải chứng thư số, tài khoản hay bằng chứng rằng một ứng dụng đã được bảo mật đúng cách.

Bài viết giải thích lựa chọn kích thước, ý nghĩa đầu ra và những điều cần kiểm tra trước khi sử dụng. Kiến thức mật mã nền được trình bày để giúp đọc kết quả, không được hiểu là tính năng bổ sung của công cụ hoặc sự thay thế cho đánh giá bảo mật toàn hệ thống.

Các thuật ngữ cần hiểu khi tạo cặp khóa RSA

RSA và cặp khóa bất đối xứng

RSA là một hệ mật mã khóa công khai, thuộc nhóm mật mã bất đối xứng vì hai vai trò sử dụng khóa khác nhau. Khóa công khai có thể cung cấp cho bên cần mã hóa, còn khóa riêng phải được chủ sở hữu bảo vệ. Khác với mật khẩu dùng chung, việc biết khóa công khai không có nghĩa là được phép biết khóa riêng. Kích thước RSA tính theo độ dài mô-đun bằng bit, không phải số ký tự trong văn bản khóa hoặc độ dài mật khẩu.

RSA-OAEP

RSA-OAEP là cơ chế mã hóa kết hợp RSA với phương pháp đệm OAEP. Hiểu đơn giản, cách đệm là một phần của quy trình chuẩn bị dữ liệu trước khi áp dụng phép toán RSA; không nên xem RSA chỉ là một phép toán có thể dùng tùy ý. Công cụ yêu cầu tạo khóa cho RSA-OAEP với quyền sử dụng mã hóa và giải mã. OAEP không phải định dạng tệp, cũng không phải cơ chế ký số. Việc tạo khóa theo cấu hình này không có nghĩa giao diện đã mã hóa một thông điệp.

SHA-256

SHA-256 là hàm băm tạo đầu ra dài 256 bit. Hàm băm khác mã hóa: không có thao tác “giải mã SHA-256” để khôi phục nguyên văn dữ liệu ban đầu. Trong công cụ, SHA-256 là tham số cố định của cấu hình RSA-OAEP, không phải tiện ích băm độc lập. Con số 256 ở đây cũng không phải kích thước khóa RSA. Chẳng hạn, lựa chọn RSA 2048 bit vẫn đi cùng SHA-256; hai con số mô tả hai thành phần khác nhau.

PEM và Base64

Base64 biểu diễn dữ liệu nhị phân bằng ký tự văn bản để thuận tiện lưu trữ và trao đổi. PEM bổ sung lớp trình bày với nhãn mở, nhãn đóng và các dòng nội dung Base64. Công cụ dùng cách này để hiển thị khóa và tạo tệp tải xuống. Điểm dễ nhầm là chuỗi trông khó đọc không đồng nghĩa đã được mã hóa bí mật. Người có nội dung PEM của khóa riêng vẫn có dữ liệu khóa riêng; đổi sang Base64 không làm giảm mức độ nhạy cảm.

PKCS#8 và SPKI

PKCS#8 là cấu trúc chứa khóa riêng; SPKI là cấu trúc chứa thông tin khóa công khai cùng định danh thuật toán. Đây là lớp nội dung bên trong, khác lớp văn bản PEM bên ngoài. Công cụ xuất khóa riêng theo PKCS#8 và khóa công khai theo SPKI rồi mới bọc PEM. Vì vậy, hai tệp cùng có đuôi .pem vẫn có thể chứa loại dữ liệu khác nhau. Một hệ thống yêu cầu cấu trúc khóa khác chưa chắc chấp nhận đầu ra chỉ vì đuôi tệp giống nhau.

Đầu vào và kết quả của trình tạo khóa RSA

Lựa chọn kích thước và cấu hình cố định

Đầu vào người dùng có thể chọn cho việc sinh khóa là kích thước mô-đun RSA, với ba mức 1024, 2048 và 4096 bit. Giá trị ban đầu là 2048 bit. Lựa chọn này được chuyển cho API của trình duyệt khi yêu cầu tạo khóa; nó không chỉ thay đổi cách hiển thị hoặc số dòng của kết quả.

Các thành phần còn lại được giữ cố định: thuật toán RSA-OAEP, hàm băm SHA-256 và số mũ công khai 65537. Giao diện không cung cấp lựa chọn thay đổi những tham số này. Cũng không có trường nhập hạt giống ngẫu nhiên, khóa có sẵn, thông điệp cần mã hóa hay mật khẩu dùng để bảo vệ khóa riêng.

Cần có môi trường trình duyệt hỗ trợ việc tạo và xuất khóa qua Web Crypto API. Sự hiện diện của lựa chọn trên giao diện không bảo đảm mọi thiết bị đều hoàn tất được thao tác; lỗi từ API vẫn có thể xảy ra.

Ý nghĩa của hai khóa đầu ra

Nếu quá trình thành công, kết quả gồm khóa công khai chứa dữ liệu SPKI và khóa riêng chứa dữ liệu PKCS#8, đều được biểu diễn dưới dạng PEM. Chúng thuộc cùng một lần sinh khóa. Với ứng dụng RSA-OAEP phù hợp, khóa công khai phục vụ mã hóa và khóa riêng tương ứng phục vụ giải mã ở hệ thống sử dụng khóa.

Khóa công khai có thể cung cấp cho bên sử dụng, nhưng bên nhận vẫn cần xác thực rằng nó thực sự thuộc đúng chủ thể. Việc khóa không cần giữ bí mật không loại bỏ nguy cơ bị tráo khóa. Khóa riêng thì phải được giữ kín vì nó cho phép thực hiện vai trò riêng của chủ sở hữu.

Sao chép và tải xuống chỉ là hai cách lấy cùng nội dung văn bản. Tải xuống không bổ sung mật khẩu hay lớp mã hóa cho khóa riêng. Công cụ cũng không cung cấp đầu ra XML hoặc tùy chọn đổi cấu trúc xuất khóa.

Công cụ tạo và định dạng khóa như thế nào?

Từ cặp khóa đến văn bản PEM

Luồng xử lý bắt đầu bằng yêu cầu Web Crypto API tạo cặp khóa với kích thước đã chọn và cấu hình cố định. Khóa được tạo với khả năng xuất ra ngoài, bởi công cụ cần lấy dữ liệu để hiển thị và tải xuống. Sau đó, API xuất khóa công khai theo SPKI và khóa riêng theo PKCS#8 dưới dạng dữ liệu nhị phân.

Tiếp theo, dữ liệu của từng khóa được chuyển sang Base64. Phần nội dung này được chia thành các dòng tối đa 64 ký tự; dòng cuối có thể ngắn hơn. Công cụ đặt nhãn mở và nhãn đóng trên những dòng riêng: PUBLIC KEY cho khóa công khai, PRIVATE KEY cho khóa riêng. Các nhãn giúp nhận biết loại nội dung, không phải lời chứng nhận rằng khóa đã được kiểm thử.

Việc sinh khóa thực tế được giao cho trình duyệt. Đoạn mã không tự triển khai quy trình tìm số nguyên tố hoặc tự kiểm chứng nguồn ngẫu nhiên bên trong API. Do đó, có thể mô tả chính xác yêu cầu mà công cụ gửi cho trình duyệt, nhưng không thể từ đó tuyên bố đã đánh giá chất lượng triển khai mật mã của mọi môi trường.

Điều gì xảy ra khi tạo lại hoặc gặp lỗi?

Khi bắt đầu một lần tạo mới, cả hai kết quả đang hiển thị đều bị xóa. Nút tạo tạm thời bị vô hiệu hóa trong lúc chờ xử lý, và vùng trạng thái cho biết đang sinh khóa. Nếu thành công, hai vùng kết quả nhận nội dung mới; thông báo thành công được lên lịch ẩn sau khoảng hai giây.

Nếu có lỗi, công cụ thông báo thất bại và bật lại nút tạo khi xử lý kết thúc. Kết quả cũ không được tự khôi phục, vì đã bị xóa trước khi gọi API. Cơ chế này chỉ tác động đến nội dung trên giao diện, không xóa bản khóa mà người dùng đã lưu riêng trước đó.

Trạng thái thành công có nghĩa luồng tạo, xuất và trình bày khóa đã hoàn tất mà không rơi vào nhánh lỗi. Nó không phải kết quả thử mã hóa rồi giải mã, kiểm tra liên thông với ứng dụng đích hoặc chứng nhận độ an toàn.

Khi nào nên dùng công cụ tạo cặp khóa RSA?

Học tập và thử nghiệm cấu hình

Công cụ phù hợp để làm quen với sự khác biệt giữa khóa công khai và khóa riêng, quan sát dạng PEM hoặc chuẩn bị cặp khóa cho một bài thử nghiệm. Người học có thể đối chiếu nhãn đầu ra với cấu trúc được xuất, thay vì nhầm mọi chuỗi Base64 đều là cùng một loại dữ liệu.

Trong một tình huống thử nghiệm RSA-OAEP, bên nhận tạo cặp khóa, đưa khóa công khai cho bên gửi và giữ khóa riêng để giải mã. Đây là cách sử dụng nền của cơ chế mật mã, không phải quy trình được công cụ tự thực hiện. Phần mã hóa và giải mã phải diễn ra ở ứng dụng khác có cấu hình phù hợp.

Chuẩn bị khóa cho hệ thống nhận phù hợp

Trước khi đưa đầu ra vào hệ thống nhận, cần xác định nơi đó yêu cầu SPKI hay cấu trúc công khai khác, có chấp nhận PKCS#8 cho khóa riêng không, và sử dụng OAEP với hàm băm nào. Không nên chỉ kiểm tra rằng tài liệu ghi “hỗ trợ RSA” rồi mặc nhiên coi mọi tham số đều tương thích.

Về kiến thức nền, ứng dụng thường sử dụng mã hóa lai cho dữ liệu lớn: mật mã đối xứng xử lý nội dung, còn RSA bảo vệ vật liệu khóa liên quan. Công cụ này không cung cấp chế độ mã hóa lai, cũng không xử lý tệp dữ liệu của người dùng.

Với môi trường sản xuất hoặc khóa có giá trị cao, tạo khóa chỉ là bước đầu. Cần thêm chính sách lưu trữ, sao lưu, kiểm soát truy cập, thay thế và xử lý sự cố lộ khóa. Một cặp khóa xuất thành công không tự đáp ứng các yêu cầu quản lý đó.

So sánh kích thước RSA và cách tạo khóa trên trình duyệt

1024, 2048 và 4096 bit khác nhau ở đâu?

Ba lựa chọn thay đổi độ dài mô-đun RSA, không thay đổi định dạng xuất. Theo kiến thức mật mã nền, 1024 bit không nên được chọn cho triển khai mới cần bảo mật. Việc mức này có trên giao diện không phải khuyến nghị dùng cho dữ liệu quan trọng. Mức 2048 bit là mặc định của công cụ; lựa chọn cuối cùng vẫn cần theo yêu cầu hệ thống và chính sách áp dụng.

Mức 4096 bit có mô-đun dài hơn và thường đòi hỏi nhiều tài nguyên tính toán hơn. Dữ liệu được cung cấp không có phép đo thời gian, nên không thể hứa tạo xong trong bao nhiêu giây. Số bit RSA cũng không tương đương trực tiếp số bit bảo mật của thuật toán đối xứng. Chọn 4096 bit không khắc phục việc lộ khóa riêng, tráo khóa công khai hoặc dùng sai cơ chế mật mã.

Trình duyệt và quy trình dòng lệnh

Tạo khóa qua trình duyệt giúp người dùng thao tác với giao diện có sẵn và phụ thuộc vào API mà trình duyệt cung cấp. Quy trình dòng lệnh trên Linux hoặc Ubuntu, xét ở mức chung, thường cho phép người vận hành chủ động lựa chọn cấu hình, quyền truy cập và vị trí lưu khóa. Tuy nhiên, độ an toàn còn phụ thuộc công cụ cụ thể và cách vận hành, không chỉ tên hệ điều hành.

Giao diện được cung cấp không chứng minh có phiên bản dòng lệnh của công cụ này. Dù tạo khóa theo cách nào, vẫn phải phân biệt thuật toán sử dụng với cấu trúc chứa khóa. Đuôi .pem chỉ cho biết cách trình bày văn bản, chưa đủ để kết luận một dịch vụ sẽ nhận khóa.

Ví dụ đọc kết quả và xử lý các tình huống tạo khóa

Giữ mặc định 2048 bit và chuyển sang 4096 bit

Các tình huống dưới đây được suy luận từ mã nguồn, không phải kết quả chạy thử. Giả sử trình duyệt có Web Crypto API hoạt động và việc tạo, xuất khóa hoàn tất thành công. Khi giữ mặc định 2048 bit, yêu cầu tạo khóa dùng RSA-OAEP, SHA-256 và số mũ công khai 65537. Giao diện sau đó nhận một khóa công khai PEM chứa SPKI và một khóa riêng PEM chứa PKCS#8.

Không thể dự đoán chuỗi khóa cụ thể chỉ từ lựa chọn 2048 bit. Kích thước là tham số tạo khóa, không phải thông tin đủ để suy ra nội dung đầu ra. Cũng không nên lấy một chuỗi minh họa bất kỳ và trình bày nó như khóa do công cụ đã tạo.

Nếu đổi sang 4096 bit, phần thay đổi là độ dài mô-đun được yêu cầu. Hàm băm, số mũ công khai, thuật toán và hai cấu trúc xuất vẫn giữ nguyên. Nếu thành công, vẫn có hai khóa PEM; không có căn cứ để nêu số ký tự chính xác hoặc thời gian hoàn tất trên thiết bị cụ thể.

Hiểu cách xuống dòng của PEM

Giả sử có một phần Base64 dài 130 ký tự cần được bọc PEM. Đây chỉ là dữ liệu minh họa cho quy tắc định dạng, không phải độ dài của một khóa thật. Công cụ lấy 64 ký tự đầu thành một dòng, 64 ký tự tiếp theo thành dòng thứ hai, rồi đưa phần còn lại vào dòng thứ ba.

Phép tính là 130 − 64 − 64 = 2, nên ba dòng nội dung dài lần lượt 64, 64 và 2 ký tự. Chúng nằm giữa hai dòng nhãn PEM. Việc xuống dòng giúp trình bày văn bản theo quy tắc của công cụ, không bổ sung lớp mã hóa hoặc làm khóa riêng an toàn hơn.

Tạo lại nhưng gặp lỗi

Giả sử giao diện đang có một cặp khóa, rồi người dùng bắt đầu tạo cặp khác nhưng API báo lỗi. Hai vùng kết quả đã bị xóa trước khi chờ API, nên sau lỗi chúng vẫn trống. Thông báo lỗi xuất hiện và nút tạo được bật lại; không có bước tự phục hồi cặp cũ.

Nếu người dùng đã tải hoặc lưu cặp trước đó ở nơi khác, bản lưu ấy không bị thao tác này thay đổi. Vì vậy, cần phân biệt “không còn thấy khóa trên giao diện” với “không còn bản khóa ở bất cứ đâu”.

Giới hạn và lưu ý bảo vệ khóa riêng

Khóa riêng dạng PEM vẫn là dữ liệu nhạy cảm

Khóa riêng xuất ra không được công cụ mã hóa bằng mật khẩu. PEM và Base64 chỉ là cách biểu diễn, không thay thế biện pháp bảo vệ tệp. Tránh gửi khóa riêng qua tin nhắn, đưa vào ảnh chụp màn hình hoặc lưu trong kho mã công khai. Người có quyền đọc nội dung đó có thể lấy được vật liệu khóa.

Bộ nhớ tạm cũng cần được cân nhắc vì các ứng dụng hoặc tiện ích có quyền phù hợp có thể tiếp cận nội dung đã sao chép. Khi lưu tệp, cần chọn nơi có kiểm soát truy cập phù hợp và quản lý cả bản sao lưu. Với khóa quan trọng, cách lưu trữ cần được quyết định theo yêu cầu bảo mật của hệ thống sử dụng.

Phạm vi riêng tư và tương thích chưa được kiểm chứng

Mã được cung cấp cho thấy việc sinh khóa gọi API của trình duyệt. Điều này chưa đủ để khẳng định toàn bộ trang, mọi thành phần tải kèm hoặc tiện ích trình duyệt không truyền, lưu hay làm lộ dữ liệu. Không có cơ sở để đưa ra cam kết riêng tư tuyệt đối trên phạm vi toàn hệ thống.

Khả năng hoạt động phụ thuộc Web Crypto API; sao chép còn phụ thuộc Clipboard API và quyền của môi trường. Theo kiến thức nền về trình duyệt, các API nhạy cảm thường liên quan đến ngữ cảnh an toàn như HTTPS. Tuy nhiên, điều kiện cụ thể tại trang triển khai chưa được kiểm chứng bằng chạy thực tế.

Công cụ không cung cấp quản lý vòng đời khóa, cấp chứng thư, nhập khóa, chuyển XML, mã hóa thông điệp hoặc ký số. Cũng chưa có phép thử với hệ thống đích để bảo đảm mọi tệp xuất ra đều được chấp nhận.

Câu hỏi thường gặp

Công cụ có tạo khóa RSA 256 bit không?

Không. Giao diện chỉ có các lựa chọn RSA 1024, 2048 và 4096 bit, mặc định là 2048 bit. SHA-256 xuất hiện trong thông tin cấu hình là tên hàm băm được dùng với RSA-OAEP, không phải một lựa chọn RSA 256 bit. Nếu bạn đang làm theo tài liệu có số “256”, cần xác định nó nói về hàm băm, thuật toán đối xứng hay thành phần nào khác trước khi đối chiếu với kích thước RSA của công cụ.

Nên chọn 2048 hay 4096 bit cho ứng dụng của tôi?

Hãy chọn theo yêu cầu của ứng dụng nhận khóa, chính sách bảo mật và thời gian dự kiến sử dụng khóa. Mức 2048 bit là mặc định ở đây, còn 4096 bit thường có chi phí tính toán cao hơn. Dữ liệu hiện có không đủ để đưa ra một lựa chọn tối ưu cho mọi ứng dụng hoặc dự báo hiệu năng thiết bị của bạn. Tăng kích thước cũng không thay thế việc bảo vệ khóa riêng và kiểm tra cấu hình OAEP tương thích.

Khóa riêng tải xuống có được bảo vệ bằng mật khẩu không?

Không, logic được cung cấp không có bước đặt mật khẩu hoặc mã hóa nội dung khóa riêng trước khi tải xuống. Đầu ra là khóa riêng PKCS#8 được biểu diễn bằng PEM, có thể đọc dưới dạng văn bản. Vì thế, tải xuống không phải một hành động tự bổ sung bảo vệ bí mật. Nếu hệ thống của bạn yêu cầu khóa riêng được mã hóa khi lưu trữ, cần có quy trình bảo vệ phù hợp bên ngoài phạm vi chức năng đã xác nhận của công cụ.

Vì sao hệ thống của tôi không nhận tệp PEM đã tạo?

Có thể hệ thống yêu cầu cấu trúc khóa hoặc cấu hình sử dụng khác, nhưng chưa thể kết luận nguyên nhân nếu không có yêu cầu và thông báo lỗi của bên nhận. Công cụ xuất SPKI cho khóa công khai và PKCS#8 cho khóa riêng. Một nơi yêu cầu PKCS#1, chứng thư số hoặc cấu hình OAEP khác không nhất thiết nhận trực tiếp đầu ra này. Hãy đối chiếu loại khóa, cấu trúc chứa khóa và tham số thuật toán, thay vì chỉ dựa vào đuôi .pem.

Có thể dùng công cụ này để ký số hoặc xác minh chữ ký không?

Không có chức năng ký số hoặc xác minh chữ ký trên giao diện được cung cấp. Yêu cầu tạo khóa trong mã dùng RSA-OAEP với quyền mã hóa và giải mã, không có lựa chọn thuật toán ký. RSA là một họ cơ chế có thể xuất hiện trong nhiều ứng dụng, nhưng điều đó không biến mọi công cụ RSA thành công cụ ký số. Nếu cần chữ ký, bạn phải xác định cơ chế ký, định dạng khóa và quy trình xác minh của hệ thống chuyên dụng.

Vì sao sao chép khóa thất bại dù đã tạo khóa thành công?

Tạo khóa và sao chép sử dụng hai API khác nhau, nên thành công ở bước đầu không bảo đảm bước sau cũng thành công. Việc sao chép có thể bị ảnh hưởng bởi quyền Clipboard API hoặc hạn chế của môi trường trình duyệt; mã chỉ thông báo lỗi khi thao tác không hoàn tất. Không nên từ lỗi này suy ra khóa đã hỏng. Khi nội dung vẫn hiển thị, tải xuống là một cách lấy khóa khác đã được công cụ cung cấp, nhưng thao tác tải cũng chịu chính sách của môi trường.

Có thể khẳng định khóa không bao giờ được gửi lên máy chủ không?

Không thể khẳng định tuyệt đối từ phần mã được cung cấp. Có thể xác nhận rằng luồng sinh khóa gọi Web Crypto API của trình duyệt và đưa kết quả vào vùng hiển thị, nhưng chưa có dữ liệu về toàn bộ trang, thành phần khác hoặc tiện ích đang hoạt động. Phạm vi kiểm tra hiện tại không đủ để bảo đảm mọi đường truyền và mọi nơi lưu dữ liệu. Với khóa có giá trị cao, hãy đánh giá môi trường sử dụng và chính sách bảo vệ thay vì chỉ dựa vào thông báo riêng tư trên giao diện.

12 bình luận

  • Dương Thị Thảo

    Đang cần cặp khóa để thử ký JWT, thấy trang có cả Trình phân tích JWT nên khá tiện. Có hướng dẫn nối hai công cụ này với nhau không?

  • Đỗ Minh Thủy

    minh tao khoa roi, gio muon ma hoa mot doan text bang public key thi lam o dau a?

  • Đỗ Tuấn Hà

    tao lai cap khoa moi thi cap cu co bi mat tren giao dien khong? nen co thong bao truoc de tranh quen luu

  • Hồ Quốc Thắng

    Private Key nên có cảnh báo rõ là không được chia sẻ cho người khác. Người mới dùng dễ copy nhầm phần này lắm.

  • Phần hiển thị khóa dài trên điện thoại hơi khó đọc, mong có cách xuống dòng hoặc cuộn ngang thuận tiện hơn.

  • Bùi Thanh Kiên

    Nếu chưa có nút đặt lại Settings về mặc định thì mong bổ sung. Mình chỉnh thử vài mục rồi không nhớ cấu hình ban đầu nữa.

  • Lê Xuân Hoàng

    Nhìn tên Public Key với Private Key là hiểu sơ sơ, nhưng có thêm chú thích tiếng Việt bên dưới sẽ thân thiện hơn với người mới nha.

  • Lê Xuân Sơn

    Cho mình hỏi khóa được tạo ngay trên trình duyệt hay có gửi dữ liệu lên máy chủ? Mình muốn biết trước khi dùng cho dự án thật.

  • Đỗ Tiến Tài

    Mình thích cách bố trí phần cấu hình khóa ngay cạnh trình tạo, chỉnh xong là thao tác tiếp được luôn.

  • Ngô Minh Quang

    tool ngon nha, tao cap khoa nhanh ma khong can cai them phan mem gi

  • Lý Thanh Hương

    Trong phần Settings thì nên chọn độ dài khóa bao nhiêu để dùng cho một dự án web nhỏ vậy mọi người?

  • Hồ Thị Nam

    Mình vừa tạo thử một cặp khóa RSA, giao diện dễ hiểu nên không mất nhiều thời gian làm quen. Phần Public Key và Private Key tách riêng rất tiện.

Bình luận vui vẻ - Yêu cầu nâng cấp