
Công cụ tính chỉ số BMI trẻ em theo biểu đồ tăng trưởng là gì?
Công cụ tính chỉ số BMI trẻ em theo biểu đồ tăng trưởng là công cụ tính chỉ số khối cơ thể từ chiều cao, cân nặng, sau đó đối chiếu với dữ liệu tham chiếu theo tuổi và giới tính của trẻ. BMI theo tuổi không chỉ trả lời cân nặng tương quan với chiều cao ra sao, mà còn đặt chỉ số ấy vào bối cảnh phát triển của trẻ ở thời điểm đánh giá.
Về kiến thức nền, cơ thể trẻ thay đổi trong quá trình lớn lên nên không thể dùng trực tiếp cách đọc BMI người lớn. Hai trẻ có cùng BMI nhưng khác tuổi hoặc giới tính có thể nằm ở những vị trí khác nhau trong phân bố tham chiếu. Vì thế, chỉ biết số kg và số cm chưa đủ để kết luận nhóm BMI của trẻ.
Theo mã được cung cấp, công cụ nhận giới tính, ngày sinh, chiều cao và cân nặng; tính tuổi so với ngày hiện tại trên thiết bị; rồi trả về BMI, điểm z, bách phân vị và nhãn phân loại. Kết quả còn có khoảng cân nặng tham chiếu tại chiều cao đã nhập và biểu đồ thể hiện vị trí hiện tại của trẻ so với các đường tham chiếu.
Các bảng tham số nhúng được phần mô tả trong mã xác định là dữ liệu tham chiếu WHO. Tuy nhiên, việc đọc mã không đồng nghĩa đã đối chiếu độc lập từng giá trị với tài liệu gốc hay xác nhận toàn bộ cách triển khai tương đương phần mềm chuyên môn. Kết quả phục vụ sàng lọc tham khảo, không phải chẩn đoán và không thay thế đánh giá tăng trưởng của bác sĩ.
Năm thuật ngữ cần hiểu khi đọc BMI trẻ em
BMI theo tuổi
BMI theo tuổi là cách diễn giải chỉ số khối cơ thể trong tương quan với tuổi và giới tính của trẻ. Bản thân phép tính BMI chỉ dùng cân nặng và chiều cao; phần “theo tuổi” xuất hiện khi đối chiếu kết quả với phân bố tham chiếu phù hợp. Điểm dễ nhầm là coi một số BMI thấp hơn người lớn là thiếu cân. Ở trẻ, cần xem vị trí theo tuổi và giới tính trước khi đọc nhãn phân loại, thay vì áp trực tiếp các mốc cố định như 18,5 hoặc 25.
Điểm z (z-score)
Điểm z biểu đạt vị trí của BMI so với phân bố tham chiếu, được công cụ tính bằng phương pháp LMS. Điểm z bằng 0 tương ứng với trung vị; giá trị dương nằm phía trên, giá trị âm nằm phía dưới trung vị. Đây là đại lượng trực tiếp quyết định nhãn phân loại trong công cụ. Tuy nhiên, z = +2 không có nghĩa trẻ thừa 2 kg hay thừa 2% cân nặng. Nó cũng không tự giải thích nguyên nhân của thể trạng, vì cùng vị trí thống kê có thể đi kèm những hoàn cảnh sức khỏe khác nhau.
Bách phân vị (percentile)
Bách phân vị mô tả vị trí tương đối trên thang từ 0 đến 100 trong phân bố tham chiếu. Chẳng hạn, P50 là vị trí trung vị, không phải trẻ “đạt 50% tiêu chuẩn sức khỏe”. P85 được hiểu là BMI nằm cao hơn khoảng 85% phân bố tham chiếu cùng tuổi, cùng giới, chứ không phải có 85% mỡ cơ thể hoặc 85% nguy cơ bệnh. Công cụ suy bách phân vị từ điểm z bằng một hàm xấp xỉ phân phối chuẩn, rồi làm tròn số hiển thị nên cần tránh diễn giải thứ hạng quá chính xác.
Độ lệch chuẩn (SD)
SD là viết tắt của độ lệch chuẩn, một khái niệm thống kê liên quan đến mức độ phân tán của dữ liệu. Trên biểu đồ, các đường −2 SD, −1 SD, 0, +1 SD và +2 SD giúp nhận biết vị trí tương đối của BMI theo tuổi. Không nên hiểu khoảng cách một SD luôn bằng một lượng BMI hoặc số kg cố định. Do hình dạng phân bố và các tham số thay đổi theo tuổi, giới tính, khoảng BMI giữa hai đường có thể khác nhau tại các vị trí trên biểu đồ.
Phương pháp LMS và trung vị
LMS là phương pháp dùng ba tham số để chuyển giữa BMI và điểm z: L mô tả phép biến đổi hình dạng phân bố, M là trung vị, còn S là tham số độ phân tán. Trung vị là giá trị nằm giữa phân bố tham chiếu, không phải cân nặng lý tưởng bắt buộc cho mọi trẻ. Công cụ sử dụng các bộ tham số riêng theo tuổi và giới tính. Vì vậy, đưa trẻ về đúng đường trung vị không phải mục tiêu tự động; việc đánh giá còn cần diễn biến tăng trưởng và bối cảnh sức khỏe.

Cần nhập thông tin gì và đọc các kết quả như thế nào?
Thông tin đầu vào và đơn vị
Thông tin cần có gồm bé trai hoặc bé gái, ngày sinh, chiều cao bằng cm và cân nặng bằng kg. Tuổi được chấp nhận từ 0 đến 228 tháng; chiều cao từ 40 đến 210 cm; cân nặng từ 2 đến 200 kg, đều gồm hai đầu mút. Đây là điều kiện kỹ thuật, không chứng minh mọi tổ hợp trong khoảng đều hợp lý về y khoa.
Nên nhập số thuần, không kèm chữ “cm”, “kg”, và ưu tiên dấu phẩy cho phần thập phân, chẳng hạn 26,5. Một số cách viết có dấu chấm theo nhóm ba chữ số có thể bị hiểu thành phân cách hàng nghìn. Các số có sẵn ban đầu chỉ là dữ liệu mẫu, không phải số đo của trẻ đang được đánh giá.
Ý nghĩa các ô kết quả
BMI hiển thị tối đa một chữ số thập phân, điểm z tối đa hai chữ số, còn bách phân vị được làm tròn thành số nguyên sau chữ P. Nhãn nhóm dựa trên điểm z chưa làm tròn. Vì vậy, hãy đọc đồng thời con số và nhãn, không tự phân loại lại chỉ từ giá trị đã rút gọn.
Khoảng cân nặng tham chiếu được quy đổi từ các mốc z = −2 và z = +1 tại tuổi, giới tính và chiều cao hiện có. Hai đầu khoảng hiển thị tối đa một chữ số thập phân, đơn vị kg. Dù giao diện gọi đây là khoảng “bình thường”, nó không phải chỉ định phải tăng hoặc giảm cân đến một đầu mút nào đó.
Cách đọc vị trí trên biểu đồ
Trục ngang là tuổi từ 0 đến 19 năm; trục dọc là BMI. Năm đường tham chiếu tương ứng −2, −1, 0, +1 và +2 SD, trong đó đường 0 là trung vị. Điểm có chú thích “bé” thể hiện tuổi và BMI của lần nhập hiện tại. Đọc vị trí theo chiều dọc tại tuổi của trẻ để thấy tương quan với các đường này.
Biểu đồ không phải lịch sử nhiều lần đo của một trẻ. Một điểm nằm gần đường nào chỉ mô tả vị trí hiện tại, không cho biết trẻ đã đi theo đường đó trong những tháng trước.

Công cụ tính BMI, điểm z và phân loại theo quy tắc nào?
Từ số đo đến BMI và tuổi tháng
Công thức là BMI = cân nặng (kg) / [chiều cao (cm) / 100]². Chiều cao phải đổi sang mét trước khi bình phương; đơn vị BMI là kg/m². Bình phương chiều cao có nghĩa sai lệch ở số đo chiều cao cũng ảnh hưởng đến kết quả, không chỉ sai lệch cân nặng.
Tuổi tháng được tính bằng chênh lệch năm × 12, cộng chênh lệch tháng, cộng chênh lệch ngày trong tháng chia 30,4375. Đây không phải phép lấy tổng số ngày sống chia cho một tháng cố định. Tuổi hiện trên giao diện bỏ phần tháng lẻ, nhưng phép đối chiếu vẫn dùng phần lẻ đó. Công cụ không có trường chọn ngày đo riêng.
Đối chiếu LMS để tính điểm z
Công cụ chọn bảng bé trai hoặc bé gái rồi tìm tham số phù hợp với tuổi. Khi tuổi nằm giữa hai hàng, từng tham số L, M, S được nội suy tuyến tính: tuổi ở đâu giữa hai mốc thì tham số cũng được lấy theo tỷ lệ tương ứng giữa hai giá trị.
Khi L khác 0, công thức là z = [(BMI / M)^L − 1] / (L × S). Khi L bằng 0, dùng z = ln(BMI / M) / S. Nếu BMI bằng M thì điểm z bằng 0. Đây là mô tả thuật toán trong mã, không phải xác nhận mọi kết quả đều tương đương một phần mềm chuyên môn khác.
Hai nhánh phân loại và các giá trị sát ngưỡng
Mốc chuyển nhánh của triển khai là 61 tháng, không phải ngay sinh nhật 5 tuổi. Các khoảng dưới đây thể hiện chính xác cách xử lý giá trị bằng ngưỡng:
| Tuổi | Điểm z | Nhóm kết quả |
|---|---|---|
| Dưới 61 tháng | z < −3 | Suy dinh dưỡng thể gầy còm nặng |
| −3 ≤ z < −2 | Gầy còm | |
| −2 ≤ z ≤ +1 | Bình thường | |
| +1 < z ≤ +2 | Nguy cơ thừa cân | |
| +2 < z ≤ +3 | Thừa cân | |
| z > +3 | Béo phì | |
| Từ 61 đến 228 tháng | z < −3 | Gầy nặng |
| −3 ≤ z < −2 | Gầy | |
| −2 ≤ z ≤ +1 | Bình thường | |
| +1 < z ≤ +2 | Thừa cân | |
| z > +2 | Béo phì |
Tuổi từ 60 đến dưới 61 tháng vẫn ở nhánh đầu, đồng thời các tham số được nội suy giữa hàng 60 và 61 tháng. Chi tiết này cần được phân biệt với cách nói khái quát “dưới 5 tuổi” và “từ 5 tuổi”.
Cách suy ra bách phân vị và khoảng cân nặng
Bách phân vị bằng Φ(z) × 100, với Φ là hàm phân phối chuẩn tích lũy được tính xấp xỉ. Để suy ngược BMI tại một mốc z, công cụ dùng M × (1 + L × S × z)^(1/L), hoặc M × exp(S × z) nếu L bằng 0.
BMI tại z = −2 và z = +1 được nhân với bình phương chiều cao tính bằng mét để tạo hai đầu khoảng cân nặng. Các công thức cho biết cách triển khai hiện có; chúng không tự chứng minh nguồn dữ liệu đã được xác thực độc lập hay toàn bộ phương pháp luôn khớp phiên bản chuyên môn mới nhất.

Ví dụ tính BMI và diễn giải kết quả có căn cứ
Biết BMI nhưng chưa đủ dữ liệu để phân loại
Giả định chiều cao hiện tại là 128 cm, cân nặng 26 kg, chưa có ngày sinh và giới tính. Đổi chiều cao thành 1,28 m, ta có BMI = 26 / 1,28² = 26 / 1,6384 ≈ 15,8691 kg/m². Theo quy tắc hiển thị tối đa một chữ số thập phân, BMI sẽ là 15,9.
Đây mới là kết quả của phép tính từ hai số đo. Không có tuổi và giới tính thì chưa chọn được vị trí trong bảng tham chiếu, nên không thể suy ra điểm z, bách phân vị hay nhãn nhóm. Việc thấy 15,9 thấp hơn một mốc BMI người lớn không đủ để kết luận trẻ gầy.
Các ví dụ trong mục này là tình huống giả định được suy luận từ công thức và bảng tham số trong mã, không phải báo cáo đã chạy thử công cụ.
Hai ví dụ tại trung vị của bảng tham chiếu
Ví dụ thứ nhất giả định bé trai có ngày sinh cách ngày đánh giá đúng 5 năm, cùng ngày và tháng, chiều cao 100 cm, cân nặng 15,1916 kg. Tuổi tính được là 60 tháng. Vì chiều cao bằng 1 m nên BMI bằng 15,1916 kg/m², đúng bằng trung vị của hàng bé trai 60 tháng.
Khi BMI / M = 1, công thức cho z = 0. Kết quả hiển thị theo quy tắc của công cụ là BMI 15,2, điểm z +0 SD, bách phân vị P50, nhãn Bình thường. Tuổi 60 tháng vẫn dùng nhánh phân loại dưới 61 tháng.
Ví dụ thứ hai giả định bé gái đúng 72 tháng, với ngày sinh cách ngày đánh giá đúng 6 năm, chiều cao 100 cm và cân nặng 15,2697 kg. BMI bằng 15,2697 kg/m², đúng trung vị của hàng bé gái 72 tháng. Vì vậy z = 0, bách phân vị làm tròn P50, nhãn Bình thường và BMI hiển thị 15,3. Trường hợp này thuộc nhánh từ 61 tháng.
Những cân nặng nhiều chữ số được chọn để phép kiểm tra toán học rõ ràng. Chúng không phải mục tiêu dinh dưỡng, cũng không hàm ý trẻ thực tế ở các tuổi ấy nên có chiều cao hoặc cân nặng như ví dụ.
Ví dụ đầu vào không được chấp nhận
Giả định ngày sinh hợp lệ, chiều cao 39 cm và cân nặng 10 kg. Chiều cao thấp hơn giới hạn 40 cm nên công cụ báo yêu cầu nhập trong khoảng 40–210 cm và không cập nhật phép tính cho bộ thông tin này.
Nếu trước đó đã có kết quả hợp lệ, các con số cũ không được xóa khi lỗi xuất hiện. Do đó, BMI còn nhìn thấy không phải kết quả ứng với 39 cm và 10 kg. Cần xử lý lỗi trước khi tiếp tục đọc hoặc ghi nhận kết quả.

Giới hạn cần biết trước khi dùng kết quả cho trẻ
Giới hạn của chỉ số và một lần đo
BMI không trực tiếp đo tỷ lệ mỡ, khối cơ hay giải thích nguyên nhân thay đổi cân nặng. Một nhãn ngoài nhóm bình thường chưa đủ xác định vấn đề sức khỏe cụ thể; ngược lại, nhãn bình thường cũng không thay thế đánh giá dinh dưỡng toàn diện.
Một lần đo chỉ cung cấp một điểm tham chiếu. Không thể từ đó biết tốc độ phát triển, xu hướng tăng giảm hay thời điểm bắt đầu thay đổi. Chất lượng số đo vẫn quan trọng dù công thức được tính chính xác.
Những tình huống cần diễn giải thận trọng
Công cụ không nhận tuổi hiệu chỉnh do sinh non, giai đoạn dậy thì, bệnh lý hoặc hoàn cảnh đo. Trẻ sinh non và trẻ dưới hai tuổi cần được trao đổi với bác sĩ khi diễn giải. Nếu kết quả bất thường hoặc số đo thay đổi đáng kể, nên tìm đánh giá chuyên môn thay vì tự đặt chế độ ăn kiêng.
Do không có ngày đo riêng, nhập số đo cũ sẽ vẫn được đối chiếu bằng tuổi hiện tại. Ngoài ra, dữ liệu được cung cấp không đủ để khẳng định công cụ có chứng nhận y khoa, độ chính xác tuyệt đối hoặc toàn bộ website không gửi hay lưu thông tin.
Giới hạn của hình vẽ và dữ liệu hiển thị
Khung vẽ BMI chỉ từ 9 đến 34; điểm ngoài vùng được đưa về mép. Các đường được dựng từ những mốc cách nhau sáu tháng và nối bằng đoạn thẳng. Biểu đồ không có đường ±3 SD, dù một số phân loại có dùng các ngưỡng này.
Vì vậy, không đánh giá mức độ chỉ từ khoảng cách trên hình. Cũng cần đọc thông báo lỗi trước: kết quả hợp lệ cũ có thể còn hiển thị khi đầu vào mới bị từ chối.

Ứng dụng kết quả để theo dõi và trao đổi với bác sĩ
Chuẩn bị thông tin cho buổi tư vấn
Kết quả có thể là điểm mở đầu để trao đổi về tăng trưởng, nhất là khi người chăm sóc nhận thấy thay đổi về thể trạng. Nên mang theo ngày đo, chiều cao, cân nặng, ngày sinh và hoàn cảnh đo, thay vì chỉ cung cấp một ảnh có nhãn phân loại.
Khi kết quả khác kỳ vọng, hãy kiểm tra đơn vị, ngày sinh, lựa chọn giới tính và chất lượng số đo trước. Sự nhầm lẫn giữa cm và mét, thông tin sinh bị nhập sai hoặc số đo chưa đáng tin cần được làm rõ trước khi thay đổi sinh hoạt. Có thể hỏi bác sĩ kết quả này nên được đặt cạnh những thông tin sức khỏe nào của trẻ.
Theo dõi có ghi nhận, không chạy theo một con số
Người chăm sóc có thể tự ghi các lần đo kèm ngày tháng để cung cấp diễn biến khi tư vấn. Đây là cách theo dõi bên ngoài công cụ, không phải tính năng lưu lịch sử được xác nhận từ mã. Việc ghi nhận nên giữ rõ số đo gốc, tránh chỉ lưu BMI đã làm tròn.
Theo dõi BMI hiện tại và ước tính chiều cao khi trưởng thành là hai câu hỏi khác nhau. Nếu quan tâm câu hỏi thứ hai, có thể tham khảo riêng công cụ dự đoán chiều cao trẻ khi trưởng thành; kết quả dự đoán không thay cho đánh giá tăng trưởng và không hàm ý hai công cụ tự kết nối dữ liệu.
Quan trọng hơn, không dùng nhãn thống kê để gây áp lực ngoại hình. Mục đích theo dõi là hỗ trợ sức khỏe, không buộc trẻ đạt trung vị hoặc một mức cân nặng máy móc.

BMI trẻ em khác cách đọc BMI người lớn và cân nặng đơn thuần ra sao?
Cùng công thức nhưng khác cách diễn giải
BMI của trẻ và người lớn cùng lấy cân nặng chia bình phương chiều cao tính bằng mét. Khác biệt nằm ở bước đọc kết quả: trẻ cần được đối chiếu theo tuổi và giới tính, không áp trực tiếp các mốc 18,5 và 25.
| Thông tin | Cho biết điều gì? | Điều không nên suy ra |
|---|---|---|
| Cân nặng đơn thuần | Khối lượng cơ thể tại thời điểm đo | Không tự cho biết tương quan với chiều cao |
| BMI tính từ số đo | Tương quan cân nặng với bình phương chiều cao | Không trực tiếp đo mỡ cơ thể |
| BMI theo tuổi của trẻ | Vị trí trong tham chiếu theo tuổi, giới tính | Không tự xác định nguyên nhân hoặc chẩn đoán |
Khi lựa chọn công cụ cho người trưởng thành, công cụ tính chỉ số khối cơ thể BMI tổng quát là một nội dung riêng để tham khảo đúng đối tượng. Không nên mang cách diễn giải của người lớn sang kết quả trẻ em.
Một số đo hiện tại không thay thế diễn biến tăng trưởng
Cùng một số kg, trẻ có chiều cao khác nhau sẽ có BMI khác nhau. Nhưng thêm chiều cao vào phép tính vẫn chưa cho toàn cảnh: hai trẻ cùng vị trí hiện tại có thể đã trải qua những diễn biến tăng trưởng khác nhau.
Cần phân biệt đường tham chiếu trên hình với đường theo dõi cá nhân. Các đường của công cụ mô tả các mốc thống kê theo tuổi; chúng không nối các lần đo của trẻ. Muốn trao đổi về xu hướng, cần những số đo có ngày tháng rõ ràng, được xem trong bối cảnh phát triển và sức khỏe của chính trẻ đó.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao hai trẻ có cùng BMI lại nhận kết quả phân loại khác nhau?
Vì phân loại không chỉ dựa vào BMI mà dựa vào vị trí của BMI theo tuổi và giới tính. Công cụ chọn bảng tham số tương ứng rồi tính điểm z, nên cùng một BMI có thể chuyển thành các điểm z khác nhau. Ngoài ra, hai nhánh tuổi có cách đặt nhãn khác nhau ở một số vùng. Khi so sánh, cần kiểm tra thông tin của từng trẻ, không coi nhãn khác nhau là bằng chứng phép chia BMI bị sai.
Có thể nhập chiều cao, cân nặng đo từ vài tháng trước không?
Có thể nhập các con số nếu chúng nằm trong giới hạn kỹ thuật, nhưng không nên dùng kết quả ấy để đánh giá thời điểm quá khứ. Công cụ tính tuổi từ ngày sinh đến ngày hiện tại trên thiết bị, không có trường ngày đo. Như vậy, số đo cũ sẽ bị ghép với tuổi mới. Để trao đổi về lần đo trước, hãy giữ nguyên ngày đo và số đo gốc, rồi nhờ người có chuyên môn đối chiếu đúng thời điểm.
P100 có nghĩa trẻ nặng hơn tất cả trẻ cùng tuổi và giới tính không?
Không. Trước hết, bách phân vị ở đây liên quan đến BMI trong phân bố tham chiếu, không phải chỉ cân nặng. Số hiển thị còn được làm tròn thành số nguyên, nên một giá trị rất gần 100 có thể hiện thành P100. Điều đó không chứng minh trẻ đứng trên mọi trẻ ngoài thực tế, cũng không biểu thị 100% nguy cơ mắc bệnh. Ở giá trị cực trị, nên đọc cùng điểm z, nhãn nhóm và đánh giá chuyên môn.
Vì sao điểm z hiển thị đúng ngưỡng nhưng nhãn phân loại có vẻ đã sang nhóm khác?
Nguyên nhân có thể là làm tròn: nhãn dùng điểm z đầy đủ, trong khi giao diện chỉ hiển thị tối đa hai chữ số thập phân. Một giá trị nhỉnh hơn +1 một chút có thể vẫn hiện là +1 sau khi rút gọn, nhưng điều kiện “lớn hơn +1” đã được thỏa mãn. Cũng cần xem trẻ thuộc nhánh tuổi nào. Không nên suy ngược toàn bộ phép phân loại từ con số hiển thị ngắn gọn hoặc tự kết luận có mâu thuẫn.
Vì sao điểm của trẻ nằm sát mép biểu đồ dù BMI vẫn được tính?
Vì vùng hiển thị BMI của biểu đồ bị giới hạn từ 9 đến 34, còn phép tính không bị giới hạn theo khung vẽ này. Nếu BMI nằm ngoài vùng, vị trí điểm được đưa về mép tương ứng để biểu diễn. Vì thế, hai kết quả khác nhau có thể cùng trông sát mép. Hãy đọc con số BMI, điểm z và nhãn thay vì ước lượng giá trị từ hình; mép biểu đồ không phải ngưỡng sinh học hay giới hạn đo lường.
Vì sao nhập sai số đo mà kết quả cũ vẫn còn trên màn hình?
Vì khi gặp đầu vào không hợp lệ, công cụ hiện thông báo lỗi và dừng cập nhật, nhưng không xóa các kết quả trước đó. Những số còn nhìn thấy vì vậy có thể thuộc lần nhập hợp lệ gần nhất, không ứng với thông tin đang lỗi. Hãy kiểm tra cảnh báo về ngày sinh, tuổi, chiều cao hoặc cân nặng, hoàn tất việc nhập hợp lệ rồi mới đọc kết quả. Không ghi lại nhãn cũ như kết quả của lần nhập bị từ chối.
Kết quả ngoài nhóm bình thường có đồng nghĩa phải tăng hoặc giảm cân ngay không?
Không. Kết quả ngoài nhóm bình thường là thông tin sàng lọc cần được kiểm tra và diễn giải, không phải chỉ định thay đổi cân nặng ngay lập tức. Trước tiên cần xác nhận số đo, đơn vị và ngày sinh; sau đó trao đổi với bác sĩ, đặc biệt khi trẻ sinh non, còn nhỏ hoặc thay đổi thể trạng đáng kể. Không dùng khoảng cân nặng tham chiếu để tự ép ăn, nhịn ăn hay đặt tốc độ tăng giảm cân cho trẻ.


6 bình luận
Phạm Thanh Quyên
Nên giải thích rõ BMI theo tuổi của trẻ khác với ngưỡng BMI người lớn, chứ ban đầu mình cũng định lấy mốc của người lớn để so.
Bùi Hoài Dương
Mình thích phần chọn giới tính và ngày sinh, đỡ phải tự tính xem con được bao nhiêu tháng tuổi.
Huỳnh Thanh Anh
Bieu do tren dien thoai hoi nho, neu phong to duoc thi tot qua.
Đặng Minh Mai
Có khoảng cân nặng bình thường đi kèm nên dễ tham khảo hơn là chỉ hiện mỗi chỉ số BMI.
Phan Văn Yến
Cho mình hỏi ngày sinh của bé phải nhập theo ngày/tháng/năm hay tháng/ngày/năm vậy ạ?
Bùi Thị Hoàng
Mình nhập ngày sinh, chiều cao và cân nặng của con là xem được ngay vị trí trên biểu đồ. Tiện hơn tự dò bảng nhiều.