
Giới thiệu về Máy Tính Độ Phóng Đại Kính Hiển Vi
Máy Tính Độ Phóng Đại Kính Hiển Vi là công cụ web hỗ trợ tính tổng độ phóng đại của kính hiển vi quang học và ước lượng kích thước thực tế của mẫu vật từ kích thước ảnh. Công cụ tập trung vào hai bài toán thường gặp trong học tập và thực hành: xác định tổ hợp thị kính – vật kính cho độ phóng đại bao nhiêu lần, và quy đổi kích thước trên ảnh về kích thước của mẫu.
Chẳng hạn, thị kính 10x kết hợp với vật kính 40x cho tổng độ phóng đại 400x. Với bài toán kích thước, một ảnh mẫu dài 5 mm ở độ phóng đại tuyến tính 400x tương ứng với kích thước thực 12,5 µm, nếu ảnh đo được thực sự giữ đúng tỷ lệ phóng đại đó.
Công cụ giúp giảm nhầm lẫn giữa độ phóng đại của từng bộ phận, tổng độ phóng đại và các đơn vị vi mô như micromet, nanomet. Đây là những nhầm lẫn dễ xảy ra khi làm bài tập sinh học, ghi chép thực hành hoặc đối chiếu kích thước tế bào. Xem thêm các công cụ khác trong danh mục Sinh học để giải các bài tập sinh học khác.
Điểm cần phân biệt: phép tính tổng độ phóng đại dựa trực tiếp vào thông số thấu kính; phép tính kích thước từ ảnh còn phụ thuộc vào độ chính xác của tỷ lệ ảnh. Đối với ảnh chụp bằng camera, ảnh đã phóng to trên màn hình hoặc ảnh in lại, không nên mặc định tổng độ phóng đại lúc soi chính là tỷ lệ của ảnh đang đo.

Giải thích các thuật ngữ và thông số
Độ phóng đại thị kính
Thị kính là bộ phận ở gần mắt người quan sát, có nhiệm vụ phóng đại ảnh trung gian do vật kính tạo ra. Thông số nhập vào biểu thị số lần phóng đại, thường được viết là 5x, 10x, 15x hoặc 20x. Ký hiệu “x” ở đây chỉ “lần”, không phải đơn vị chiều dài.
- Giá trị hợp lệ theo ô nhập: số lớn hơn 0; chấp nhận cả số thập phân kiểu Việt Nam (10,5 hoặc 1.000).
- Các lựa chọn nhanh: 5x, 10x, 15x và 20x; lựa chọn 10x được đánh dấu là “Chuẩn”.
- Vai trò trong tính toán: nhân với độ phóng đại vật kính để xác định tổng độ phóng đại.
Các lựa chọn nhanh là những giá trị có sẵn để giảm thao tác nhập, không phải danh sách duy nhất được phép sử dụng. Thông số thực tế cần lấy từ thị kính đang dùng.
Độ phóng đại vật kính
Vật kính là bộ phận nằm gần mẫu vật, tạo ảnh phóng đại ban đầu. Độ phóng đại vật kính ảnh hưởng đến mức phóng đại tổng, nhưng khả năng phân biệt chi tiết còn phụ thuộc vào đặc tính quang học, đặc biệt là khẩu độ số.
- Giá trị hợp lệ theo ô nhập: số lớn hơn 0; chấp nhận cả số thập phân kiểu Việt Nam (10,5 hoặc 1.000).
- Các lựa chọn nhanh: 4x, 10x, 40x và 100x.
- Gợi ý trên giao diện: 40x được gắn nhãn “Tế bào”, 100x được gắn nhãn “Vi khuẩn”. Đây là gợi ý ứng dụng thường gặp, không phải bảo đảm mọi mẫu đều quan sát rõ ở mức đó.
Tổng độ phóng đại
Tổng độ phóng đại là kết quả của phép nhân độ phóng đại thị kính với độ phóng đại vật kính. Trong chế độ tính kích thước, thông số này trở thành dữ liệu đầu vào để chia kích thước ảnh.
- Ký hiệu hiển thị: x, nghĩa là số lần phóng đại.
- Phạm vi nhập trong chế độ kích thước: số lớn hơn 0, chấp nhận cả số thập phân.
- Ý nghĩa: mức phóng đại tuyến tính; không phải số lần tăng diện tích và cũng không phải chỉ số độ phân giải.
Ví dụ, 400x nghĩa là chiều dài tương ứng trong ảnh được phóng đại 400 lần theo mô hình tính toán, không có nghĩa kính phân giải tốt hơn 400 lần.
Kích thước đo được trên ảnh
Đây là chiều dài, đường kính hoặc một khoảng cách cụ thể đo trên ảnh mẫu vật. Công cụ không tự nhận diện mẫu, không đo từ tệp ảnh và không phân tích hình dạng; nó tính toán từ số đo người dùng cung cấp.
- Đơn vị đầu vào: mm hoặc cm; mm là lựa chọn mặc định.
- Bước nhập: không đặt bước cố định; ô nhập chấp nhận số thập phân tùy ý.
- Điều kiện tính toán: phải là số lớn hơn 0. Ô nhập không đặt thuộc tính giới hạn dưới; logic tính toán vẫn từ chối giá trị bằng 0.
- Ý nghĩa đo lường: cần xác định rõ đang đo chiều dài, chiều rộng hay đường kính để diễn giải kết quả đúng.
Khi chọn cm, công cụ nhân số đo với 10 để chuyển về mm trước khi tính. Các ô số không đặt giới hạn trên cụ thể, nhưng giá trị nhập phải có ý nghĩa đối với thiết bị và mẫu vật thực tế.
Kích thước thực tế và các đơn vị đầu ra
Kích thước thực tế là kết quả lấy kích thước ảnh chia cho độ phóng đại tương ứng. Công cụ trình bày kết quả chính bằng đơn vị phù hợp và đồng thời cung cấp bảng quy đổi:
- Milimet, mm: đơn vị chuẩn trung gian trong phép tính.
- Micromet, µm: 1 mm = 1.000 µm; thường thuận tiện để mô tả kích thước tế bào.
- Nanomet, nm: 1 µm = 1.000 nm; phù hợp để biểu diễn những chiều dài rất nhỏ.
Mối quan hệ giữa các thông số: với cùng kích thước ảnh, độ phóng đại càng lớn thì kích thước thực tính được càng nhỏ. Với cùng độ phóng đại, kích thước thực tăng tỷ lệ thuận với kích thước đo trên ảnh.

Mục đích và lợi ích
Giảm sai sót khi tính độ phóng đại và đổi đơn vị
Khi tính thủ công, người dùng phải thực hiện phép nhân hoặc phép chia, sau đó quy đổi giữa cm, mm, µm và nm. Sai sót thường gặp là cộng độ phóng đại thị kính với vật kính, quên chuyển cm sang mm hoặc nhầm hệ số 1.000 giữa các đơn vị vi mô.
Công cụ thực hiện các bước này theo một chuỗi tính toán thống nhất. Một số đo nhập bằng cm sẽ được đưa về mm trước khi chia, rồi chuyển tiếp sang µm và nm. Nhờ vậy, kết quả ở các đơn vị khác nhau được tạo từ cùng một giá trị gốc.
Rút ngắn thời gian xử lý nhiều bài toán
Các lựa chọn nhanh cho thị kính và vật kính giúp kiểm tra nhiều tổ hợp mà không phải nhập lại từng con số. Kết quả xuất hiện trên cùng giao diện, kèm lời diễn giải và bảng quy đổi trong chế độ tính kích thước.
So với cách ghi phép tính ra giấy rồi tra hệ số đổi đơn vị, công cụ thuận tiện hơn khi xử lý liên tiếp các ví dụ, kiểm tra bài tập hoặc chuẩn bị bảng thông số cho buổi thực hành.
Độ chính xác tính toán không thay thế độ chính xác đo lường
Ưu điểm của công cụ là tự động hóa phép tính, không phải tự bảo đảm chất lượng dữ liệu đầu vào. Kết quả còn chịu ảnh hưởng của sai số đo ảnh, thông số độ phóng đại và việc ảnh đã bị thay đổi kích thước hay chưa.
Phần kết quả có làm tròn để dễ đọc. Vì vậy, số chữ số hiển thị không nên được hiểu là độ chính xác thực nghiệm. Với nhu cầu đo lường chuyên môn, ảnh đã hiệu chuẩn hoặc thước chuẩn vẫn là cơ sở đáng tin cậy hơn.

Các tính năng nổi bật
- Hai chế độ tính toán: tính tổng độ phóng đại và tính kích thước mẫu vật.
- Chọn nhanh thông số thấu kính: tích hợp các giá trị thị kính 5x, 10x, 15x, 20x và vật kính 4x, 10x, 40x, 100x. Phần trường nhìn có thêm chip chọn nhanh FN 18, 20, 22.
- Hỗ trợ hai đơn vị kích thước ảnh: mm và cm, với quy đổi tự động về mm; đổi đơn vị sẽ tự đổi con số để giữ nguyên độ dài thực (5 mm thành 0,5 cm).
- Hiển thị đồng thời ba đơn vị kích thước thực: mm, µm và nm để thuận tiện đối chiếu.
- Tự chọn đơn vị cho kết quả chính: ưu tiên µm, chuyển sang nm khi kết quả nhỏ hơn 0,1 µm và chuyển sang mm khi lớn hơn 1.000 µm.
- Trường nhìn từ số trường FN: nhập FN ghi trên thị kính để xem đường kính trường nhìn ở vật kính hiện tại cùng bảng tra cho 4 vật kính chuẩn; trên 1.000x có thêm lưu ý về “phóng đại rỗng”.
- Kiểm tra dữ liệu: từ chối giá trị không phải số hoặc không lớn hơn 0, đồng thời yêu cầu các trường phù hợp với chế độ đang chọn; khi nhập sai, thông báo nêu tên ô và kết quả cũ được ẩn đi thay vì giữ lại.
- Trình bày kết quả dễ nhận biết: dùng nền xanh mòng két cho độ phóng đại và nền xanh dương cho kích thước thực tế.
- Tối ưu bố cục màn hình nhỏ: nhóm ô nhập chuyển từ hai cột sang một cột khi chiều rộng màn hình không quá 600 px.
- Tính trực tiếp khi nhập: không cần nhấn nút tính; gõ xong là kết quả cập nhật ngay, kể cả khi chuyển chế độ.
- Ghi chú sinh học tham khảo: bổ sung khoảng kích thước thường gặp của tế bào nhân thực và vi khuẩn.
Phép tính được thực hiện bằng JavaScript ngay trong trình duyệt, không có bước gửi số liệu nhập tới máy chủ để xử lý.
Đối tượng sử dụng
Học sinh, sinh viên và giáo viên
Công cụ phù hợp với các bài học về kính hiển vi, cấu tạo tế bào, vi sinh vật và đơn vị đo kích thước. Giáo viên có thể dùng các tổ hợp thị kính – vật kính để minh họa quan hệ nhân; học sinh, sinh viên có thể đối chiếu kết quả tính tay và kiểm tra quy đổi đơn vị. Khi quan sát vi khuẩn dưới kính hiển vi, bạn có thể ước tính tốc độ sinh sôi của chúng bằng máy tính thời gian thế hệ vi sinh vật.
Người thực hành sinh học và vi sinh
Người làm thực hành trong các lĩnh vực sinh học, nông nghiệp, thực phẩm hoặc nghiên cứu vi sinh có thể dùng công cụ để kiểm tra nhanh độ phóng đại danh định và ước lượng kích thước từ dữ liệu đã biết.
Trong các công việc cần đo kích thước chính xác, công cụ đóng vai trò hỗ trợ phép tính. Nó không thay thế việc hiệu chuẩn kính, phần mềm đo ảnh, thước trắc vi hoặc quy trình chuyên môn.
Người mới tìm hiểu kính hiển vi
Giao diện có nhãn tiếng Việt, gợi ý thông số và công thức ngay trong từng chế độ nên phù hợp với người chưa quen tính toán quang học. Tuy nhiên, người dùng vẫn cần phân biệt số lần phóng đại với đơn vị chiều dài và hiểu điều kiện áp dụng phép tính kích thước ảnh.

Nguyên lý hoạt động và công thức
1. Tính tổng độ phóng đại
Công cụ tính trực tiếp ngay khi nhập: lấy hai giá trị từ ô thị kính và vật kính, chuyển chúng thành số rồi kiểm tra tính hợp lệ. Số thập phân kiểu Việt Nam được chấp nhận (10,5 hay 1.000 đều hiểu đúng). Nếu một trong hai không phải số hoặc không lớn hơn 0, thông báo lỗi nêu tên ô và kết quả cũ được ẩn đi.
Công thức: Tổng độ phóng đại = Độ phóng đại thị kính × Độ phóng đại vật kính.
Ví dụ: 10 × 40 = 400, kết quả hiển thị là 400x. Giá trị được định dạng theo cách viết số tiếng Việt; chẳng hạn 1000 được trình bày thành 1.000.
Công thức này phù hợp với mô hình kính hiển vi quang học ghép dùng thị kính và vật kính, khi không có hệ số phóng đại bổ sung cần tính đến. Nếu hệ quang có bộ phận trung gian làm thay đổi độ phóng đại, hệ số đó cần được xem xét riêng.
2. Chuẩn hóa đơn vị và tính kích thước thực
Trong chế độ kích thước, công cụ xử lý lần lượt ba thông tin: số đo trên ảnh, đơn vị đo và tổng độ phóng đại. Sau khi kiểm tra số đo và độ phóng đại đều lớn hơn 0, phép tính diễn ra như sau:
- Chuyển kích thước ảnh về mm: giữ nguyên nếu đầu vào là mm; nhân với 10 nếu đầu vào là cm.
- Tính kích thước thực bằng mm: lấy kích thước ảnh đã chuẩn hóa chia cho độ phóng đại.
- Chuyển sang µm: lấy kết quả mm nhân với 1.000.
- Chuyển sang nm: lấy kết quả µm nhân với 1.000.
Công thức: Kích thước thực = Kích thước ảnh ÷ Độ phóng đại.
Nếu kích thước ảnh được tính bằng mm, có thể viết trực tiếp:
Kích thước thực (µm) = Kích thước ảnh (mm) × 1.000 ÷ Độ phóng đại.
Công thức đúng khi độ phóng đại nhập vào là tỷ số chiều dài giữa ảnh đang đo và mẫu thật. Độ phóng đại quan sát qua thị kính không tự động xác định tỷ lệ của ảnh chụp hoặc ảnh in; camera, phần mềm hiển thị và thao tác thay đổi kích thước đều có thể làm tỷ lệ này khác đi.
3. Chọn đơn vị và định dạng kết quả
Công cụ ưu tiên hiển thị kết quả chính bằng µm, sau đó áp dụng hai ngưỡng:
- Nhỏ hơn 0,1 µm: hiển thị bằng nm.
- Từ 0,1 đến 1.000 µm, bao gồm hai mốc: hiển thị bằng µm.
- Lớn hơn 1.000 µm: hiển thị bằng mm.
Kết quả chính có phần thập phân được làm tròn đến hai chữ số sau dấu thập phân. Trong bảng quy đổi, giá trị mm nhỏ hơn 0,001 được trình bày theo ký hiệu khoa học; các giá trị mm còn lại được làm tròn đến bốn chữ số thập phân, còn µm được làm tròn đến hai chữ số thập phân.
Việc chuyển sang nm chỉ là lựa chọn đơn vị trình bày, không chứng minh rằng kính hiển vi đang dùng có thể phân giải cấu trúc ở kích thước nanomet.

Ví dụ thực tế
Ví dụ 1: Xác định độ phóng đại khi quan sát tế bào
Một kính hiển vi sử dụng thị kính 10x và vật kính 40x.
- Đầu vào: thị kính 10; vật kính 40.
- Phép tính: 10 × 40 = 400.
- Kết quả: tổng độ phóng đại 400x.
Kết quả giúp ghi đúng độ phóng đại danh định trong báo cáo thực hành. Việc thấy rõ cấu trúc nào còn phụ thuộc vào mẫu, cách chuẩn bị tiêu bản, ánh sáng và chất lượng quang học.
Ví dụ 2: Ước lượng kích thước từ ảnh có tỷ lệ xác định
Một cấu trúc có chiều dài 5 mm trên ảnh, và độ phóng đại tuyến tính của chính ảnh đó được xác định là 400x.
- Đầu vào: kích thước ảnh 5 mm; độ phóng đại 400.
- Kích thước thực: 5 ÷ 400 = 0,0125 mm.
- Quy đổi: 0,0125 mm = 12,5 µm = 12.500 nm.
- Kết quả chính: 12,5 µm.
Ví dụ này cho thấy cách đưa một số đo ở thang milimet về thang micromet. Nó không có nghĩa mọi ảnh chụp ở kính 400x đều có thể đo trực tiếp bằng thước rồi chia cho 400.
Ví dụ 3: Tính từ số đo bằng centimet
Trên một ảnh có độ phóng đại tuyến tính đã xác định là 1.000x, chiều dài mẫu đo được là 0,3 cm.
- Đầu vào: 0,3 cm; độ phóng đại 1.000.
- Chuẩn hóa: 0,3 × 10 = 3 mm.
- Kích thước thực: 3 ÷ 1.000 = 0,003 mm.
- Quy đổi: 0,003 mm = 3 µm = 3.000 nm.
Kích thước 3 µm nằm trong khoảng thường gặp của nhiều vi khuẩn. Tuy nhiên, kích thước đơn lẻ không đủ để xác định loài hoặc kết luận bản chất của mẫu. Từ kích thước đo được của vi khuẩn, bạn có thể mô hình hoá quy mô quần thể của chúng theo thời gian bằng máy tính tăng trưởng quần thể.
Ví dụ 4: Hiểu việc tự chuyển sang nanomet
Với kích thước ảnh 0,05 mm và độ phóng đại 1.000x, công cụ tính được:
0,05 ÷ 1.000 = 0,00005 mm = 0,05 µm = 50 nm.
Do 0,05 µm nhỏ hơn ngưỡng 0,1 µm, kết quả chính được hiển thị là 50 nm. Đây là minh họa cho logic chọn đơn vị, không phải khẳng định một kính hiển vi quang học thông thường quan sát được chi tiết 50 nm.

Những thông tin thú vị xung quanh chủ đề này
Phóng đại lớn hơn chưa chắc nhìn rõ hơn
Độ phóng đại mô tả mức tăng kích thước ảnh, còn độ phân giải mô tả khả năng phân biệt hai điểm ở gần nhau. Khi ảnh đã đạt giới hạn phân giải của hệ quang, phóng to thêm có thể chỉ tạo ra ảnh lớn hơn mà không xuất hiện chi tiết mới — hiện tượng thường gọi là “phóng đại rỗng”.
Vật kính 100x thường đi cùng kỹ thuật dùng dầu
Nhiều vật kính 100x dùng trong quan sát vi khuẩn là vật kính dầu. Dầu soi phù hợp giúp cải thiện việc thu nhận ánh sáng và khả năng phân giải của hệ quang. Tuy nhiên, không nên suy ra rằng mọi vật kính 100x đều dùng dầu; cần tuân theo ký hiệu và hướng dẫn của nhà sản xuất.
Kích thước tế bào rất đa dạng
Ghi chú của công cụ nêu tế bào nhân thực thường có kích thước khoảng 10–100 µm và vi khuẩn thường khoảng 1–5 µm. Đây là những khoảng tham khảo hữu ích cho nhiều trường hợp, nhưng có ngoại lệ. Kích thước còn thay đổi theo loại tế bào, trạng thái phát triển và chiều đo đang xét. Để tính số tế bào sau các vòng phân chia, bạn có thể dùng máy tính phân bào (nguyên phân & giảm phân).
Thước tỷ lệ thường hữu ích hơn nhãn độ phóng đại trên ảnh
Khi một ảnh được phóng to hoặc thu nhỏ cùng với thước tỷ lệ đi kèm, tỷ lệ giữa mẫu và thước vẫn được giữ nguyên. Ngược lại, nhãn “400x” có thể không còn phản ánh đúng kích thước trên bản in hoặc màn hình sau khi ảnh bị đổi cỡ.
Vì vậy, ảnh có thước tỷ lệ đã hiệu chuẩn thường đáng tin cậy hơn cho bài toán đo kích thước. Thước này cũng phải được giữ đúng tỷ lệ với ảnh, không chỉnh sửa độc lập.
Những câu hỏi thường gặp
Tổng độ phóng đại có phải là tổng của thị kính và vật kính không?
Không. Công cụ dùng phép nhân: Thị kính × Vật kính. Thị kính 10x và vật kính 40x cho 400x, không phải 50x.
Công cụ có tự đo kích thước tế bào từ ảnh không?
Không. Công cụ không có chức năng tải ảnh, nhận diện tế bào hoặc tự đo đường kính. Nó tính kích thước từ số đo ảnh và độ phóng đại được cung cấp.
Có thể lấy kích thước đo trên màn hình chia cho độ phóng đại lúc soi không?
Chỉ khi đã xác định tỷ lệ phóng đại tuyến tính của ảnh trên màn hình đúng bằng giá trị đó. Kích thước hiển thị chịu ảnh hưởng của camera, phần mềm, mức zoom và màn hình. Nếu chưa biết tỷ lệ, nên dựa vào thước tỷ lệ hoặc dữ liệu hiệu chuẩn.
Vì sao nhập 0 lại không được chấp nhận?
Logic tính toán yêu cầu các thông số đều lớn hơn 0. Độ phóng đại bằng 0 không có ý nghĩa trong bài toán và gây phép chia không hợp lệ; kích thước ảnh bằng 0 cũng không phù hợp để ước lượng kích thước mẫu.
Công cụ có chấp nhận độ phóng đại thập phân không?
Có. Các ô nhập chấp nhận cả số nguyên và số thập phân, gõ theo cách viết số tiếng Việt (10,5 hoặc 1.000 đều được hiểu đúng); điều kiện duy nhất là giá trị phải lớn hơn 0.
Tại sao kết quả lúc là µm, lúc là nm hoặc mm?
Công cụ ưu tiên µm. Nếu kích thước nhỏ hơn 0,1 µm, kết quả chính chuyển sang nm; nếu lớn hơn 1.000 µm, kết quả chính chuyển sang mm. Bảng quy đổi vẫn cung cấp cả ba đơn vị.
Kết quả có đủ chính xác cho đo lường chuyên môn không?
Công cụ thực hiện phép tính theo các thông số được nhập, nhưng độ tin cậy của phép đo phụ thuộc vào hiệu chuẩn, sai số đo và tỷ lệ ảnh. Với báo cáo nghiên cứu, kiểm nghiệm hoặc ứng dụng lâm sàng, cần sử dụng quy trình đo đã được xác nhận thay vì chỉ dựa vào độ phóng đại danh định.
Công cụ có xác định được mẫu là tế bào hay vi khuẩn không?
Không. Các nhãn gợi ý và ghi chú kích thước chỉ cung cấp bối cảnh tham khảo. Nhận diện mẫu còn cần hình thái, phương pháp nhuộm, điều kiện quan sát và những phép kiểm tra phù hợp. Mọi phép tính trên đều chạy miễn phí ngay trên công cụ việt, không cần cài đặt thêm.
Tài liệu tham khảo
- Comparing Cell Types — Biology LibreTexts (theo OpenStax, Concepts of Biology). Tế bào nhân sơ có đường kính 0,1–5,0 µm; tế bào nhân thực có đường kính 10–100 µm.
- How much magnification do I need? — Microbehunter. Tổng độ phóng đại bằng độ phóng đại vật kính nhân với độ phóng đại thị kính; vật kính 100x là vật kính dầu; độ phóng đại hữu ích tối đa của kính hiển vi quang học khoảng 1.000x, trên mức đó là phóng đại rỗng.
- Going to 1000x — Micscape Magazine (Microscopy-UK). Độ phóng đại tối đa của kính hiển vi quang học khoảng 1.000x do giới hạn phân giải của ánh sáng nhìn thấy; phóng to thêm không cho thêm chi tiết và thường gọi là “empty magnification”; vật kính 100x khắc chữ OIL, cần dùng dầu soi để đạt kết quả chấp nhận được.
- Working Mechanism of the Light Microscope: Resolution, Numerical Aperture, and Oil Immersion — Microbe Online. Độ phân giải là khả năng phân biệt hai điểm kề nhau thành hai điểm riêng biệt; ánh sáng trắng không phân giải được cấu trúc nhỏ hơn khoảng 0,2 µm; dầu soi có cùng chiết suất với thủy tinh nên giúp thu thêm ánh sáng xiên và cải thiện độ phân giải.
- Mã nguồn Máy Tính Độ Phóng Đại Kính Hiển Vi (microscope-calculator-v2) trên congcuviet.com. Đối chiếu hành vi đã triển khai: các ô nhập là text, không đặt thuộc tính min hay step; tổng độ phóng đại bằng thị kính nhân vật kính; đổi cm sang mm bằng phép nhân 10; kết quả chính ưu tiên µm, chuyển sang nm khi nhỏ hơn 0,1 µm và sang mm khi lớn hơn 1.000 µm; giá trị mm nhỏ hơn 0,001 hiển thị theo ký hiệu khoa học; lưới nhập liệu chuyển một cột khi màn hình không quá 600 px.
